- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Duy H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 164/2023/HS - ST Ngày 07/12/2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Kim Phượng
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngân
Bà Vũ Thị Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Sơn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 07/12/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 160/2023/TLST- HS ngày 10/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2023/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
HÀ DUY H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10/10/1978. Tại huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố P, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Duy H (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (đã chết); Bị cáo có vợ: Nguyễn Thị L - Sinh năm 1981 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm: 2002, con nhỏ sinh năm 2004; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 26/8/2023, Hà Duy H đang ở nhà em họ ở số nhà 023, đường N, tổ 12, phường K, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai thì nảy sinh ý định đi mua ma túy về để sử dụng, nhưng không có phương tiện nên đã đi bộ sang nhờ anh Trần Văn T ở số nhà 040, đường N, tổ 12, phường K, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai chở đi. Hà Duy H nói với anh T “anh chở em đi ra đây mua ít đồ” anh T đồng ý. Sau đó Hà Duy H bảo anh T điều khiển xe mô tô chở Hà Duy H đi vào khu vực đường vào nhà máy rác thải, thuộc thôn T, xã Đ, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai mục đích tìm mua ma túy. Khi đến nơi Hà Duy H bảo anh T dừng xe và đứng đợi, Hà Duy H xuống xe một mình đi bộ khoảng 10 mét thì gặp một người nữ giới không quen biết đang đứng một mình ở ven đường. Hà Duy H đến hỏi người nữ giới “ bán cho hai con” người nữ gật đầu, Hà Duy H lấy 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) đưa cho người nữ giới, người nữ giới cầm tiền rồi đưa lại cho Hà Duy H 02 gói giấy bạc, màu trắng chứa ma túy Heroine. Hà Duy H cầm 02 gói ma túy trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ ra chỗ anh T đang đứng chờ rồi đi về nhà anh T. Hồi 15 giờ 20 phút cùng ngày, khi vừa về đến nơi thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Lào Cai phát hiện bắt quả tang. Quá trình kiểm tra, thu giữ trong lòng bàn tay phải của Hà Duy H 02 gói giấy bạc, màu trắng bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục, Hà Duy H khai nhận chất bột khô màu trắng là ma túy Heroine tàng trữ để sử dụng cho bản thân, ngoài ra còn tạm giữ của anh Trần Văn T 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA SH150I, màu đen biển kiểm soát 24B2– 521.57.
Tại bản kết luận giám định số 286/KL- GĐMT ngày 30/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã kết luận: 0,17 (không phẩy mười bảy) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Hà Duy H ngày 26/8/2023 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai gửi đến giám định là loại chất ma túy Heroine.
Cáo trạng số:155/CT-VKS ngày 08/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Hà Duy H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hà Duy H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Duy H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Duy H từ 01(Một) năm đến 01(Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là “ Phạt tiền” đối với bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 0,10 (không phẩy mười) gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được đựng trong bì thư tái niêm phong có chữ ký của hai bên giao nhận và dấu của phòng KTHS - Công an tỉnh Lào Cai, Bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Hà Duy H ngày 26/8/2023 tại tổ 12, phường K, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Hà Duy H nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo Hà Duy H khai nhận: Ngày 26/8/2023 bị cáo Hà Duy H đã đi mua 0,17 (Không phẩy mười bảy) gam Heroine với giá 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng). Mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với bản kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã đủ căn cứ kết luận hành vi tàng trữ 0,17 (Không phẩy mười bảy) gam ma túy Heroine của bị cáo đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước ta, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án thật tưng xứng với tính chật mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra mới có tác dụng cải tạo bị cáo.
Về các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo Hà Duy H là người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo Hà Duy H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 - Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra đã xác định bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là “Phạt tiền” đối với bị cáo.
Về vật chứng: Số lượng mẫu 0,17 (Không phẩy mười bảy) gam Heroine thu giữ của bị cáo cơ quan điều tra đã trích mẫu 0,07 (Không phẩy không bảy) gam và đã sử dụng hết trong quá trình giám định. Số lượng Heroine còn lại là 0,10 (Không phẩy mười) gam. Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ. Vì vậy cần tịch thu tiêu huỷ. [6] Về các vấn đề khác:
Đối với người nữ giới đã bán ma tuý cho bị cáo Hà Duy H ngày 26/8/2023. Do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ, ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu nào khác để chứng minh. Vì vậy, không đủ căn cứ xử lý trong vụ án này. Đối với xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH150I, màu đen biển kiểm soát 24B2-521.57. Quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Trần Văn Hải là con trai của ông Trần Văn T. Ngày 26/8/2023, ông Trần Văn T sử dụng chiếc xe mô tô trên chở bị cáo Hà Duy H đi, bị cáo Hà Duy H mua ma túy anh Trần Văn H, ông Trần Văn T không biết, không tham gia cùng nên ngày 30/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Trần Văn H là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Hà Duy H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Hà Duy H 01(Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 26/8/2023.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,10 (Không phẩy mười) giam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được đựng trong bì thư tái niêm phong có chữ ký của hai bên giao nhận và dấu của phòng KTHS - Công an tỉnh Lào Cai. Bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Hà Duy H ngày 26/8/2023 tại tổ 12, phường K, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án thành phố Lào Cai ngày 01/12/2023).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 - Bộ luật tố tụng hình sự ; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí. Buộc bị cáo Hà Duy H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKSND TP; - Công an TP; - Sở tư pháp; - Phòng hồ sơ CA tỉnh (PV06); - T.H.A HS(2); - Bị cáo; - Lưu HS- AV. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Kim Phƣợng |