- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa Nguyễn thị Lệ K và Ngô Tiến B"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Lệ K và anh Ngô Tiến B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 164/2023/HNGĐ-ST Ngày: 06-6-2023 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Phượng
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Hồ Xuân Dũng
2/ Bà Trương Thị Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt Hồng là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Liêm – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 55/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2023 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 768/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Lệ K, sinh năm 1992; trú tại: số 357/3 N, khu vực L, phường T, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định, có mặt.
2. Bị đơn: anh Ngô Tiến B, sinh năm 1988; trú tại: số 25/1 Đ, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 15 tháng 3 năm 2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lệ K trình bày: Chị và anh Ngô Tiến B tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Đập Đá, thị xã An Nhơn vào ngày 19/9/2013. Sau khi cưới, vợ chồng sống chung với cha mẹ chồng tại phường Đập Đá, thị xã An Nhơn. Năm 2019, cha chị chết nhưng anh B không về phục khăn tang, từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, kình cãi. Khi chị thất nghiệp, anh B nghe lời cha mẹ, không đưa tiền cho chị để chi phí cuộc sống. Chị bỏ về nhà mẹ ruột nhiều lần, lần cuối vào năm 2021. Chị và anh B sống ly thân đã 2 năm, không có liên lạc với nhau. Chị không còn tình cảm với anh Ngô Tiến B nên yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Ngô Thị O, sinh ngày 04/01/2014, sau khi vợ chồng ly thân cháu sống với anh B. Ly hôn, giao con cho anh B nuôi dưỡng. Chị đang thất nghiệp nên không cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản: không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 12 tháng 5 năm 2023 bị đơn anh Ngô Tiến B trình bày: anh và chị Nguyễn Thị Lệ K tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đập Đá năm 2013. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ anh. Vợ chồng không có mâu thuẫn gì nhưng anh không hiểu lý do vì sao chị Kiều thường bỏ về nhà mẹ ruột ở. Gia đình anh nhiều lần đến khuyên nhủ thì chị Kiều quay về nhưng ít hôm lại bỏ đi. Lần cuối chị Kiều bỏ đi vào năm 2021, từ đó vợ chồng sống ly thân, không có liên lạc với nhau. Anh xác định không còn tình cảm gì với chị Kiều nên đồng ý yêu cầu ly hôn của chị Kiều.
Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị Lệ K có 01 người con chung tên Ngô Thị O, sinh ngày 04/01/2014, hiện đang sống với anh. Ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về quan hệ tài sản: không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Lệ K giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đối với vụ án từ giai đoạn thụ lý, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo pháp luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Lệ K và anh Ngô Tiến B; giao con chung tên Ngô Thị O, sinh ngày 04/01/2014 cho anh Ngô Tiến B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng; các đương sự không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nên miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của đương sự: anh Ngô Tiến B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh B.
Chị Nguyễn Thị Lệ K và anh Ngô Tiến B tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đập Đá vào ngày 16/9/2013, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Chị Nguyễn Thị Lệ K và anh Ngô Tiến B xác định cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh chị đã tự chấm dứt cuộc sống chung từ năm 2021. Chị Nguyễn Thị Lệ K yêu cầu ly hôn. Anh Ngô Tiến B đồng ý ly hôn nhưng anh B không đến tham gia phiên hòa giải, nên Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án.
Xét sự thuận tình ly hôn của chị Nguyễn Thị Lệ K và anh Ngô Tiến B là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với tình trạng mâu thuẫn của anh chị, nên công nhận.
Chị Nguyễn Thị Lệ K và anh Ngô Tiến B có 01 con chung là Ngô Thị O, sinh ngày 04/01/2014, đang sống với anh B. Chị Nguyễn Thị Lệ K và anh Ngô Tiến B thống nhất giao cháu Oanh cho anh Ngô Tiến B tiếp tục là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xét, sự thỏa thuận của chị Kiều và anh B phù hợp với nguyện vọng của cháu Oanh và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, nên ghi nhận.
Anh Ngô Tiến B không yêu cầu chị Nguyễn Thị Lệ K phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nên miễn xét.
Về tài sản chung: chị Nguyễn Thị Lệ K và anh Ngô Tiến B thống nhất không yêu cầu Tòa giải quyết, nên miễn xét.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, chị Nguyễn Thị Lệ K phải chịu 300.000đ.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 51, 53, 54, 55, 81, 82, 83, 84 và Điều 85 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Lệ K và anh Ngô Tiến B.
2. Về con chung: Giao cháu Ngô Thị O, sinh ngày 04/01/2014 cho anh Ngô Tiến B tiếp tục là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Anh Ngô Tiến B không yêu cầu chị Nguyễn Thị Lệ K phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nên miễn xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về quan hệ tài sản: chị Nguyễn Thị Lệ K và anh Ngô Tiến B không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.
4. Án phí hôn nhân sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Lệ K phải chịu 300.000(ba trăm nghìn)đồng, được trừ vào 300.000(ba trăm nghìn)đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005657 ngày 15/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn.
5. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Lệ K có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án. Anh Ngô Tiến B vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND thị xã An Nhơn; - Các đương sự; - Chi cục THADS thị xã An Nhơn; - UBND phường Đập Đá (ĐKKH số 104, ngày 16/9/2013); - Lưu HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Ái Phượng |