vanban.org

Bản án 164/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Hồ Cẩm T ly hôn với ông Nguyễn Hùng M.

2/ Về con chung: Buộc ông Nguyễn Hùng M giao con chung tên là Nguyễn Đức T Ân, sinh ngày 09/9/2018, cho bà Hồ Cẩm T nuôi. Không đặt ra yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con. Ông M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. 3/ Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà T yêu cầu ly hôn với ông M"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Hồ Cẩm T ly hôn với ông Nguyễn Hùng M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2023/HNGĐ-ST
Ngày 21 – 7 – 2023
V/v xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp

Ông Huỳnh Hoàng Khởi

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Đát - là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau tỉnh Cà Mau.

Ngày 21 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 202/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2023, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Cẩm T, sinh năm 1994

(có mặt) Địa chỉ: Ấp X, xã L, Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hùng M, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 05, đường T, khóm 3, Phường 9, Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của bà Hồ Cẩm T trong quá trình giải quyết vụ án, được bổ sung tại phiên tòa thể hiện:

Về hôn nhân, bà và ông Nguyễn Hùng M đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau vào năm 2016. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hay cự cãi, ông M ham chơi, không chăm lo cho gia đình, vợ chồng đã ly thân nhau đã khoảng 05 năm, mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông M

Về con chung, ông bà có 01 con chung tên là Nguyễn Đức T, sinh ngày 09/9/2018, hiện nay con đang sống chung với bà tại xã L, Thành phố Cà Mau. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà xác định không có.

Về nợ chung: Bà xác định không có.

Đối với ông Nguyễn Hùng M đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý về nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Cẩm T, nhưng đến nay ông M vẫn không gửi cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Ông Nguyễn Hùng M đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông M theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự

Nội dung tranh chấp được xác định là ly hôn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về yêu cầu xin ly hôn của bà T, xét thấy, bà T và ông M đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 22/9/2016 tại Ủy ban nhân dân xã L, thành phố Cà Mau, số đăng ký 116, nên hôn nhân được chấp nhận là hợp pháp. Bà T cho rằng vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mỗi người sống một nơi đã 05 năm, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Còn ông M không tham gia các phiên họp hòa giải và phiên tòa xét xử, không gửi cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình và các tài liệu, chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo như trình bày của bà T và chấp nhận cho bà T ly hôn với ông M.

Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên là Nguyễn Đức T, sinh ngày 09/9/2018, hiện nay con đang sống chung với bà T tại xã L, Thành phố Cà Mau. Xét thấy, ông M vắng mặt nhưng không gửi văn bản ghi ý kiến cũng như tài liệu chứng cứ thể hiện việc nuôi con chung sau khi ly hôn, còn bà T có đủ điều kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao con cho bà T trực tiếp nuôi. Bà T xác định không đặt ra yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập xem xét. Ông M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung, bà T xác định không có, còn ông M không gửi văn bản thể hiện ý kiến của mình và không gửi các tài liệu kèm theo chứng minh về vấn đề tài sản chung, nợ chung nên chấp nhận ý kiến của bà T.

Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 147, 227, 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

1/ Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Hồ Cẩm T ly hôn với ông Nguyễn Hùng M.

2/ Về con chung: Buộc ông Nguyễn Hùng M giao con chung tên là Nguyễn Đức T Ân, sinh ngày 09/9/2018, cho bà Hồ Cẩm T nuôi. Không đặt ra yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con. Ông M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3/ Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

4/ Về án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000đ, bà T phải nộp. Bà T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ theo biên lai số 0003134 vào ngày 04/4/2023, được đối trừ, bà T đã nộp đủ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ