- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý S - Phạm tội điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Lu…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý S phạm “Tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ____________________ Bản án số:164/2022/HS – ST Ngày 29 –12–2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Kim Sa Pha
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Phước
Ông Hà Văn Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Duẩn – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29-12-2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 159/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2022/QXXST – HS ngày 12 tháng 12 năm 2022; Đối với bị cáo:
Lý S, sinh ngày 12 tháng 02 năm 1985; Nơi sinh: Sóc Trăng; Nơi đăng ký thường trú: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Không; Con ông Lý Sà R và bà Núp Thị S; Bị cáo có vợ, nhưng chưa có con; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16 tháng 8 năm 2022 cho đến nay. (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Chị Sơn Thị Q, sinh năm 1990. Địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Người bào chữa: Luật sư Võ Bá Đ – Luật sư trợ giúp pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng cử tham gia bào chữa cho bị cáo. (có mặt)
- Người bị hại: Ông La Minh D, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (đã chết)
- Người đại diện theo pháp luật của người bị hại:
+ Bà Lâm Thị Sà M, sinh năm 1974 (Vợ bị hại).
+ Chị La Thị Tuyết M1, sinh năm 1993 (Con bị hại).
+ Chị La Thị Tuyết H, sinh năm 2002 (Con bị hại).
Cùng địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng .
+ Bà Lâm Thị Sà M và chị La Thị Tuyết M1 đồng ủy quyền tham gia tố tụng lại cho chị La Thị Tuyết H. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Lâm Thị D1, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp A2, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lý S, sinh năm 1985, là người không có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định. Vào khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 03 tháng 05 năm 2022, Lý S cùng với La Minh D và một người bạn có tên là L, uống rượu chung với nhau tại một quán nhậu tại ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, cả ba người uống khoảng hơn 02 lít rượu trắng, riêng Lý S uống hơn 01 lít rượu trắng, cả ba người uống rượu chung với nhau đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, thì nghỉ nhậu. Lúc này anh D có nhờ S điều khiển xe mô tô, mang biển số 83G1-038.70 của S để chở đi về nhà cha ruột của anh D, tại ấp Đai Úi, xã Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng để thăm cha của anh D, thì S đồng ý, nên S điều khiển xe chở anh D xuất phát từ ấp An Hiệp, xã An Trạch, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng đi trên đường Võ Văn Kiệt, thành phố Sóc Trăng theo hướng từ thành phố Cần Thơ về ngã ba Trà Tim, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, khi đi trên đường thì anh D đổi ý không muốn đi về nhà cha ruột của mình nữa, mà muốn đi về nhà của anh D tại Ấp Phước Thuận, xã Phú Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, nên S đồng ý và quay đầu xe chạy đi về nhà anh D, nên S điều khiển xe mô tô biển số 83G1-038.70 chở anh D ngồi sau lưu thông trên đường Võ Văn Kiệt hướng lưu thông từ hướng tỉnh Bạc Liêu về hướng thành phố Cần Thơ, S điều khiển xe mô tô đi với tốc độ khoảng từ 40km/h đến 50 km/h, xe đi gần vạch kẻ phân làn đường, khi S điều khiển xe đi gần đến đoạn ngân hàng Đông Á, đường Võ Văn Kiệt, phường 7, thành phố Sóc Trăng, thì S quay mặt về phía sau để nói chuyện với anh D nên không chú ý quan sát về phía trước, dẫn đến xe mô tô mang biển số 83G1-038.70 do S điều khiển đã va chạm trúng vào đuôi xe và pô xe mô tô mang biển số 83P1- 140.74 do chị Lâm Thị Dự (Dự) đang điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước, làm cho hai xe ngã xuống đường. Hậu quả làm cho anh La Minh D ngồi phía sau xe của S bị tử vong, còn chị Lâm Thị Dự thì bị xay sát nhẹ.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 222/PY. PC09, ngày 16 tháng 05 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng, kết luận: nguyên nhân dẫn đến La Minh D tử vong: do chấn thương sọ não.
Tại phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong khí thở của Bệnh viện tỉnh Sóc Trăng, ngày 03 tháng 05 năm 2022 đối với Lý S là 1,570 mg/1 lít khí thở.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 111/KL.ĐGTS, ngày 11 tháng 07 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Sóc Trăng, kết luận:
- 01 (một) xe mô tô, biển số 83P1-140.74, nhãn hiệu: YAMAHA, màu S Trắng - Đen, số máy: 5P11323827, số khung: 10PY323824, dung tích 132, loại xe 02 bánh, số loại NOUVO, đã qua sử dụng, bị hư hỏng một số bộ phận do liên quan tai nạn giao thông, giá trị sử dụng còn lại 20%, tỷ lệ hư hỏng 20%, với số tiền là 1.108.000 đồng.
- 01 (một) xe mô tô, biển số 83G1-038.78, nhãn hiệu: HONDA, màu S: Xanh - Đen, số máy: JA36E0897903, số khung: RLHJA3653LY023526, loại xe 02 bánh từ 50 - 175 cm, đã qua sử dụng, bị hư hỏng một số bộ phận do liên quan tai nạn giao thông, giá trị sử dụng còn lại 70%, tỷ lệ hư hỏng 10%, với số tiền là 1.316.000 đồng.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra tạm giữ 01 (một) xe mô tô, biển số 83P1-140.74, nhãn hiệu: YAMAHA, màu S Trắng - Đen, số máy: 5P11323827, số khung: 10PY323824, dung tích 132, loại xe 02 bánh, số loại NOUVO, đã qua sử dụng, bị hư hỏng một số bộ phận do liên quan tai nạn giao thông; 01 (một) xe mô tô, biển số 83G1-038.78, nhãn hiệu: HONDA, màu S: Xanh - Đen, số máy: JA36E0897903, số khung: RLHJA3653LY023526, loại xe 02 bánh từ 50 - 175 cm, đã qua sử dụng, bị hư hỏng một số bộ phận do liên quan tai nạn giao thông. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng cách trả lại 01 (một) xe mô tô, biển số 83P1-140.74, nhãn hiệu: YAMAHA, màu S Trắng - Đen, số máy: 5P11323827, số khung: 10PY323824, dung tích 132, loại xe 02 bánh, số loại NOUVO, đã qua sử dụng, bị hư hỏng một số bộ phận do liên quan tai nạn giao thông cho chủ sở hữu là chị Lâm Thị D.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra vụ án các người đại diện hợp pháp cho bị hại La Minh D là chị La Thị Tuyết H yêu cầu bị cáo Lý S bồi thường các khoản chi phí với số tiền là 50.000.000 đồng. Bị cáo S đồng ý bồi thường nhưng hiện nay chưa có tiền bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 148/CT – VKS.TPST ngày 21 tháng 11 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Lý S phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Lý S thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 15.000.000 đồng theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của người bị hại.
Tại phiên tòa, luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lý S về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo rất khó khăn, bị cáo rất muốn bồi thường cho gia đình người bị hại nhưng bị cáo không có tiền để bồi thường, tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã bồi thường được số tiền 1.500.000 đồng cho gia đình bị hại, đồng ý tiếp tục bồi thường số tiền 15.000.000 đồng theo yêu cầu của gia đình bị hại và sau khi bị cáo gây tai nạn đã bị chấn thương vùng đầu, ảnh hưởng đến tâm thần của bị cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo 02 năm tù, tạo điều kiện cho bị cáo chấp hành án.
Người đại diện hợp pháp của người bị hại chị La Thị Tuyết H, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự, bị cáo có bồi thường số tiền 1.500.000 đồng, yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị viện phí, tiền chi phí mai táng, tiền thiệt hại về tính mạng của người bị hại La Minh D thêm số tiền 15.000.000 đồng, do hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, không có khả năng bồi thường cho gia đình của bị hại.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lý S; Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cáo trạng số 148/CT – VKS.TPST ngày 21 tháng 11 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng và đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Tuyên bố bị cáo Lý S phạm “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện, thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo Lý S với người đại diện hợp pháp của bị hại chị La Thị Tuyết H với tổng số tiền bồi thường còn lại là 15.000.000 đồng, cũng như xử lý vật chứng nêu trên theo quy định của pháp luật, tiếp tục tạm giữ xe 01 (một) xe mô tô, biển số 83G1-038.78 của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lâm Thị D. Xét thấy, chị Lâm Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt và trong quá trình điều tra đã có lời khai cụ thể, rõ ràng. Nên Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của chị D không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt chị Lâm Thị D nêu trên theo quy định chung.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Lý S đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Bị cáo xác định nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông hậu quả làm người bị hại La Minh D chết là lỗi của bị cáo, bị cáo đang điều khiển xe mô tô trên đường nhưng không chú ý quan sát về phía trước mà quay mặt về phía sau nói chuyện với anh D và khi điều khiển xe S cũng không đảm bảo giữ khoảng cách an toàn nên đã xảy ra va chạm với xe mô tô biển số va chạm trúng vào đuôi xe và pô xe mô tô mang biển số 83P1- 140.74 do chị Lâm Thị D đang điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước. Ngoài ra, S điều khiển xe mô tô khi có nồng độ cồn trong khí thở là 1,570 mg/1 lít khí thở, vượt mức quy định, cũng như bản thân S chưa được đào tạo về lái xe, nên S không có giấy phép lái xe theo quy định vượt không đảm bảo an toàn gây nên tai nạn. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của những người có liên quan đến vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường vụ tai nạn, biên bản thực nghiệm điều tra, bản kết luận giám định pháp y về tử thi, về thương tích và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để xác định, nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông hậu quả làm người bị hại La Minh D chết, lỗi chính thuộc về bị cáo, bị cáo điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh 132cm3 tham gia giao thông đường bộ nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định và đã uống rượu có nồng độ cồn trong khí thở vượt quá mức quy định, khi điều khiển xe mô tô nhưng không chú ý quan sát về phía trước mà quay lại phía sau để nói chuyện với người bị hại dẫn đến va chạm với xe mô tô của chị Lâm Thị D đang lưu thông trên đường cùng chiều phía trước. Hành vi nêu trên của bị cáo đã vi phạm khoản 8, 9, 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ. Do đó, Cáo trạng số 148/CT – VKS.TPST ngày 21 tháng 11 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Lý S về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không làm oan, sai cho bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Xét về tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Tại thời điểm phạm tội, bị cáo Lý S là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và bị cáo phải nhận thức được rằng khi tham gia giao thông phải đảm bảo thực hiện đúng các quy tắc tham gia giao thông để đảm bảo an toàn tính mạng cho mình và người khác. Nhưng chỉ vì ý thức chủ quan của bị cáo, không thận trọng khi tham gia giao thông và không thực hiện đúng các quy tắc đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông, thiếu chú ý quan sát về phía trước, không giữ xe khoảng cách an toàn, cũng như điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh trên 132cm3 nhưng không có giấy phép lái xe, đã sử dụng nhiều rượu gây ra tai nạn giao thông hậu quả làm chết 01 người nên bị cáo phải gánh chịu hậu quả pháp lý về hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để khẳng định hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến sự an toàn, hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ và tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp gây nên hậu quả chết 01 người và tình hình an ninh trật tự về an toàn giao thông tại địa phương, đặc biệt là tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn thành phố Sóc Trăng luôn diễn biến hết sức phức tạp, luôn xảy ra tai nạn gây ra hậu quả nghiêm trọng và có chiều hướng gia tăng như trường hợp của bị cáo đã uống nhiều rượu, bia rồi tham gia giao thông. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù thật nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo học tập, cải tạo và sửa chữa sai lầm của mình nhằm mang tính giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung và nâng cao ý thức của những người tham gia giao thông.
Tuy nhiên, trước khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét, cân nhắc đến nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo thể hiện sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đã gây ra, tại phiên tòa bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 1.500.000 đồng cho gia đình bị hại, bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, là người dân tộc khmer, không biết chữ, có nhận thức pháp luật còn hạn chế và hiện tại bị cáo hạn chế nhận thức và điều khiển hành vi thuộc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà đáng lẽ ra bị cáo phải chịu. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và có nhân thân tốt, là người dân tộc Khmer, không biết chữ, nhận thức pháp luật còn hạn chế như đã nhận định nêu trên nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức hình phạt của Điều luật bị truy tố, thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với người phạm tội đã thật sự ăn năng, hối cải.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo Lý S với người đại diện hợp pháp của người bị hại, chị La Thị Tuyết H tự thỏa thuận với nhau, bị cáo Lý S đồng ý bồi thường tiền viện phí, tiền chi phí mai táng, tính mạng của người bị hại La Minh D với tổng số tiền là 15.000.000 đồng, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện, thỏa thuận bồi thường thiệt hại này giữa hai bên.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sóc Trăng đã tạm giữ của bị cáo 01 xe mô tô, biển số 83G1-038.78. Xét thấy, xe mô tô này là tài sản hợp pháp của bị cáo Lý S, nên cần tiếp tục tạm giữ và giao xe mô tô này cho Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng xử lý, phát mãi để đảm bảo cho việc thi hành án về trách nhiệm bồi thường của bị cáo.
Xét lời bào chữa của luật sư bào chữa cho bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng của vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 333 và Điều 338 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lý S phạm “Tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Xử phạt bị cáo Lý S 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt chấp hành án.
2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 584, 585, 586 và 591 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Lý S có nghĩa vụ bồi thường cho các người đại diện hợp pháp của người bị hại do chị La Thị Tuyết H đại diện nhận, số tiền viện phí, tiền chi phí mai táng, thiệt hại tính mạng của người bị hại La Minh D với tổng số tiền là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
Ngoài ra, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo Lý S không bồi thường số tiền nêu trên cho các người đại diện hợp pháp của người bị hại thì còn phải chịu thêm tiền lãi suất chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Giao 01 (một) xe mô tô, biển số 83G1-038.78, nhãn hiệu: HONDA, màu S: Xanh - Đen, số máy: JA36E0897903, số khung: RLHJA3653LY023526, loại xe 02 bánh từ 50 - 175 cm, đã qua sử dụng, bị hư hỏng một số bộ phận do liên quan tai nạn giao thông cho Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng xử lý, phát mãi để đảm bảo cho việc thi hành án về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bị cáo cho người đại diện hợp pháp của người bị hại.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng và Phiếu nhập kho cùng ngày 22/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng).
4. Về án phí: Bị cáo Lý S là người bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và 750.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
5. Báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị D vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoản thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - VKSND thành phố Sóc Trăng; - Công an thành phố Sóc Trăng; - CQTHAHS – Công an thành phố Sóc Trăng; - Chi cục THA Dân sự thành phố Sóc Trăng; - Bị cáo; - Những người đại diện hợp pháp của bị hại; - Người bào chữa; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIEN TÒA Kim Sa Pha |