- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 164/2022/HNGĐ-ST Ngày 16 - 02 - 2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thuý Ái.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Phước Trinh;
2. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bé - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không.
Trong ngày 16 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 695/2021/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2022/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm: 1992 (Có mặt);
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 35/25/7, đường số 693, tổ 4, ấp B 1, xã Th, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Đỗ Thành Th, sinh năm: 1990 (Vắng mặt).
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 35/25/7, đường số 693, tổ 4, ấp B 1, xã Th, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Tạm trú: Số 40/2, đường số 675, ấp Ph, xã Ph1, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 12/3/2020 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Tuyết M trình bày:
Bà và ông Đỗ Thành Th xây dựng gia đình năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện C, có tổ chức cưới, hai bên tự nguyện. Sau khi xây dựng gia đình, vợ chồng bà sinh sống tại gia đình bà, thời gian đầu có hạnh phúc nhưng sau đó khoảng vài tháng là xảy ra nhiều chuyện lục đục, cãi vã suốt, tuy nhiên bà vẫn cố gắng nín nhịn. Đến năm 2016 thì mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do ông Th cờ bạc, đá gà, ông Th đi làm công nhân thu nhập đổ vào cờ bạc, không quan tâm đến kinh tế gia đình và vợ con, ông Th cờ bạc gây ra nợ nần, bà đã gồng gánh phụ trả nợ cả mấy trăm triệu, ông Th hứa hẹn sửa đổi nhưng vẫn chứng nào tật nấy, đến khi bà có thai thì ông Th lại tiếp tục cờ bạc, bỏ bê vợ con, từ năm 2020 ông Th bỏ về bên chồng sống, không cấp dưỡng nuôi con, không quan tâm đến vợ con nữa, bà nhận thấy giữa bà và ông Th không thể hàn gắn, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Th.
Bà và ông Th có 01 con chung tên Đỗ Nguyễn Bảo Qu, sinh ngày 09/6/2019, hiện con chung đang sống cùng với mẹ nên bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung bà và ông Th không có, nợ chung không có.
* Bị đơn là ông Đỗ Thành Th vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 12/3/2020, bà Nguyễn Thị Tuyết M yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết cho bà ly hôn với ông Đỗ Thành Th, con chung có 01 cháu bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, bà không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung không có, nợ chung không có. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn là ông Th cư trú tại số 40/2, đường số 675, ấp Ph, xã Ph1, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về tố tụng:
Bị đơn là ông Đỗ Thành Th đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa (em ruột ông Th là bà Đỗ Thị Xuân H nhận thay các văn bản tố tụng nêu trên) nhưng vẫn không đến Tòa án, do đó Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành phiên Tòa vắng mặt ông Th theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Tuyết M và ông Đỗ Thành Th tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 123, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân xã Th, huyện C cấp ngày 29/9/2010, đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét trình bày của bà M thì bà và ông Th tự nguyện xây dựng gia đình, sau khi xây dựng gia đình hai bên chung sống bên gia đình bà, trong khoảng thời gian chung sống vợ chồng chỉ sống hạnh phúc được thời gian ngắn, mâu thuẫn xảy ra do ông Th cờ bạc gây ra nợ nần làm bà phải phụ trả nợ, ông Th cũng không phụ lo kinh tế gia đình, ông Th hứa hẹn sửa đổi nhưng đến năm 2019 lại tiếp tục gây ra nợ và bỏ về bên nhà mẹ chồng từ năm 2020, không qua thăm vợ con và không phụ lo cho con, bà nhận thấy giữa bà và ông Th không còn quan tâm đến nhau, có hàn gắn cũng không có hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn.
Xét ông Th không đến Tòa án theo giấy triệu tập để cung cấp lời khai, điều đó cho thấy ông Th không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng cùng với bà M, do đó Hội đồng xét xử chỉ xem xét các chứng cứ do bà M cung cấp, bà M và ông Th không còn chung sống cùng chung một địa chỉ, do đó Hội đồng xét xử xét không cần thiết phải xác minh về tình trạng hôn nhân của ông bà tại địa phương theo quy định tại Điều 208 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Xét tình trạng quan hệ vợ chồng giữa bà M và ông Th đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài được, mục đích hôn nhân không đạt, căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà M được ly hôn với ông Th là có cơ sở.
Về con chung:
Bà M và ông Th có 01 con chung tên Đỗ Nguyễn Bảo Qu, sinh ngày 09/6/2019, bà M yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con. Xét cháu Qu chưa đủ 36 tháng tuổi và hiện đang sống cùng mẹ, để ổn định tâm sinh lý của con chung, Hội đồng xét xử giao cháu Qu cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà M không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con, xét đây là sự tự nguyện của bà M, không trái pháp luật nên ghi nhận sự tự nguyện này. Nếu sau này bà M có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sẽ được Tòa án giải quyết ở một vụ án khác.
Về tài sản chung: Bà M xác định không có.
Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà M xác định không có.
Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét buộc bà M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 9, Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Tuyết M về việc cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Tuyết M và ông Đỗ Thành Th.
Kể từ ngày Bản án phát sinh hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 123, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân xã Th, huyện C cấp ngày 29/9/2010 cho bà M và ông Th không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung:
Bà M và ông Th có 01 con tên Đỗ Nguyễn Bảo Qu, sinh ngày 09/6/2019.
Giao cháu Qu cho bà M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà M về việc tạm thời không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, yêu cầu của cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84, Khoản 2 Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc trợ cấp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về tài sản chung: Bà M xác định không có.
4. Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà M xác định không có.
5. Về án phí sơ thẩm:
Bà M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2021/0043283 ngày 15/11/2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
6. Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Củ Chi; - Chi cục THADS huyện Củ Chi; - Ủy ban nhân dân xã Th, huyện C; - Các đương sự; - Lưu VP, Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |