vanban.org

Bản án 164/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 14/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị L 30 (Ba mươi) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Thị L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2020/HSST
Ngày: 14/9/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hiển Vinh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đoàn Hồng Sơn

2. Ông Trần Ngọc Thịnh

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Lê - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà:

Bà Lê Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 165/2020/TLST-HS ngày 24/8/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2020/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị L; Sinh năm: 1954; Nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện Phú Xuyên, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Họ tên cha: Nguyễn Văn Q - Đã chết; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị C - Đã chết; Họ tên chồng: Trịnh Xuân H - Đã chết; Có một con sinh năm 1974; Danh chỉ bản số: 227 lập ngày 18/6/2020 tại Công an quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

TATS: 01 tiền sự, 01 tiền án.

+ Tiền sự: Ngày 19/01/1977, Công an thành phố Hà Nội bắt về hành vi trộm cắp tài sản - Ngoài thời hiệu.

+ Tiền án:

Ngày 24/8/2011, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 05 năm tù về tội Môi giới mại dâm; thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2011; phạt tiền 5.000.000 đồng; truy nộp sung công 31.000.000 đồng (Án số 220/2011/HSST). Xác minh Đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự theo biên lai số 2884 ngày 24/8/2011; Chưa nộp 5.000.000 đồng tiền phạt và 31.000.000 đồng tiền truy nộp sung công - Án tích chưa xóa.

Tạm giữ: 13/5/2020. Tạm giam: 19/5/2020

(Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 12/5/2020, tổ công tác Công an phường Hàng Mã trong khi làm nhiệm vụ đã phát hiện Nguyễn Thị L đang dừng đỗ xe máy nhãn hiệu SYM màu đỏ BKS: 30P2 - 0275 trước cửa số 73 Quán Sứ, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra, L tự nguyện lấy trong túi xách đeo phía trước 01 túi ni lông màu trắng trên túi có in các chữ màu xanh kích thước 10,5 x 11cm bên trong có 05 gói giấy bạc kích thước 0,5x1cm chứa chất bột màu trắng giao nộp và khai nhận là ma túy Heroine, đang mang đi bán cho khách. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong và đưa L cùng tang vật về trụ sở Công an phường Trần Hưng Đạo giải quyết.

Thu giữ của Nguyễn Thị L:

- 01 túi đeo chéo màu đen có kích thước 20x25 cm;

- 01 túi ni lông màu trắng trên túi có in các chữ màu xanh kích thước 10,5x11cm bên trong có 05 gói giấy bạc kích thước 0,5x1cm chứa chất bột màu trắng;

+ 01 xe máy tay ga màu đỏ BKS 30P2 - 0275, số khung 029246, số máy 029246 theo biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, qua xác minh là xe máy nhãn hiệu SYM.

+ 01 điện thoại Nokia 1202 màu xanh, có vết cháy phía trên bên phải màn hình (kèm 01 sim).

+ 01 điện thoại Nokia 105 màu đen, số Imei: 357139060273773 (kèm 01 sim);

Kiểm tra 02 chiếc điện thoại có nội dung trao đổi liên quan đến việc mua bán ma tuý; xét nghiệm Nguyễn Thị L dương tính với ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 3801/KLGĐ-PC09 ngày 20/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 05 gói giấy bạc thu giữ của Nguyễn Thị L đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,313 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị L khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 12/5/2020, L điều khiển xe máy nhãn hiệu SYM BKS: 30P2 - 0275 đến khu vực Từ Sơn, Bắc Ninh gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi nilông kích thước 10,5x11cm bên trong có 05 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine với giá 250.000 đồng, mục đích để bán kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, L cất ma túy vào túi màu đen đeo trước ngực và quay trở về Hà Nội. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, bạn xã hội tên “T” có số điện thoại 0378474305 (L không biết địa chỉ, nơi ở của T) gọi điện cho L vào số 0354053550 hỏi mua 03 gói ma túy Heroine. L đồng ý, hai bên thoả thuận giá 100.000 đồng/gói và hẹn giao ma túy tại khu vực chùa Quán Sứ. Sau đó, L điều khiển xe máy đến dừng đỗ trước cửa số 73 Quán Sứ để giao bán ma túy thì bị kiểm tra bắt giữ như trên. Còn 02 gói Heroine nếu ai hỏi mua thì sẽ bán. Nếu bán trót lọt 05 gói ma tuý L sẽ thu lời số tiền 250.000 đồng. Hai chiếc điện thoại là của L, dùng để liên lạc cá nhân, có sử dụng để trao đổi mua bán ma tuý. Ngoài ra ban đầu L còn khai đã nhiều lần bán ma túy trong đó có 03 lần bán cho T vào các ngày 01, 06, 12/5/2020 nhưng không nhớ cụ thể thời gian, địa điểm, số lượng ma tuý giao dịch. Đến ngày 15/5/2020, L thay đổi lời khai khẳng định ngày 12/5/2020 là lần đầu tiên L mang ma tuý đi bán, việc thay đổi lời khai là do khi bị bắt giữ tinh thần không ổn định nên khai không chính xác.

Về người bán ma tuý và đối tượng L khai tên T hỏi mua ma tuý, do L khai không rõ tên tuổi, địa chỉ; Cơ quan điều tra đã rút list điện thoại nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh làm rõ để xử lý.

Như vậy, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ hiện có trong hồ sơ vụ án được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; lời khai nhận tội của Nguyễn Thị L phù hợp với kết luận giám định, thu giữ điện tín, các cuộc gọi, tin nhắn đến đi trong 02 điện thoại thu giữ của L chỉ đủ căn cứ kết luận: 05 gói ma túy Heroine là do L mua một lần (một nguồn) mục đích để bán kiếm lời nhưng chưa bán được (không xác định được người mua) thì bị phát hiện bắt giữ nên L phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng ma túy Heroine bị thu giữ là 0,313 gam.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu SYM màu đỏ BKS: 30P2 - 0275, quá trình điều tra xác định chủ đăng ký xe mang tên chị Nguyễn Thị D (Sinh năm: 1984, HKTT: thôn Đ, xã T, huyện Đông Anh). Xác minh tại Công an xã T xác định: chị D hiện không có mặt tại địa phương, không xác định được hiện nay đang ở đâu. Xác minh xe không nằm trong danh sách xe tang vật, Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe máy và chuyển chiếc xe máy đến Cơ quan Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm để Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 156/CT-VKS ngày 20/8/2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Nguyễn Thị L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, sau khi phân tích tính chất hành vi của bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị kết tội bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 251; điều 38; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 và đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy ma túy, 02 sim điện thoại, 01 túi đeo chéo. Tịch thu sung công: 01 điện thoại Nokia 1202 màu xanh, có vết cháy phía trên bên phải màn hình; 01 điện thoại Nokia 105 màu đen, số Imei: 357139060273773 thu giữ của bị cáo. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu SYM màu đỏ BKS: 30P2-0275, số khung: 029246, số máy: 029246, đề nghị áp dụng Điều 228 Bộ luật Dân sự, tiếp tục tạm giữ vµ thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, sau 01 năm kể từ ngày thông báo công khai mà không xác định được ai là chủ sở hữu xe máy trên thì tịch thu sung công. Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

. Về tội danh:

Bị cáo khai nhận tại phiên tòa về hành vi mua bán trái phép chất ma túy phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, cùng tang vật thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 12/5/2020, Nguyễn Thị L đã có hành vi tàng trữ 0,313 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích bán trái phép thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ cùng tang vật tại khu vực trước cửa số 73 Quán Sứ, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Hành vi của bị cáo đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS năm 2015.

. Trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được ma túy là loại độc dược có hại cho sức khỏe của con người, nhưng do ham lợi bất chính, nên bị cáo thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy và gây mất trật tự trị an xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo cần xử phạt tù giam nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội để đảm bảo tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Nhân thân bị cáo có 01 tiền sự ngoài thời hiệu, 01 tiền án chưa được xóa thể hiện bị cáo đã được cơ quan nhà nước giáo dục nhiều lần nhưng không vì thế mà tu chí, thay đổi. Lần phạm tội này được tính là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 đối với bị cáo.

. Xử lý tang vật, án phí và quyền kháng cáo:

- Ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu để tiêu hủy; 02 sim điện thoại, 01 túi đeo chéo màu đen không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 02 điện thoại thu giữ của bị cáo liên quan đến việc phạm tội tịch thu sung công.

- Xe máy hiệu SYM màu đỏ BKS: 30P2-0275, số khung: 029246, số máy: 029246, bị cáo khai là của bị cáo. Cơ quan điều tra đã tra cứu không có trong dữ liệu xe tang vật. Đây là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên căn cứ Điều 228 Bộ luật dân sự, tiếp tục tạm giữ vµ thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, sau 12 tháng kể từ ngày thông báo công khai mà không xác định được ai là chủ sở hữu xe máy trên thì tịch thu sung công.

- Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng:

+ khoản 1 điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

+ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, 135, 331, 333 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

+ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

3. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị L 30 (Ba mươi) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 13/5/2020.

Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự 2015.

4. Tang vật:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 túi nilon màu trắng trên túi có in các chữ màu xanh kích thước 10,5x11cm bên trong có 05 gói giấy bạc kích thước 0,5x1cm chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,313 gam (đã trích mẫu 0,059 gam, còn lại 0,254 gam); 02 sim điện thoại đã qua sử dụng; 01 túi đeo chéo màu đen có kích thước 20x25 cm.

- Tịch thu sung công: 01 điện thoại Nokia 1202 màu xanh, có vết cháy phía trên bên phải màn hình; 01 điện thoại Nokia 105 màu đen, số Imei: 357139060273773.

- Tiếp tục tạm giữ xe máy hiệu SYM màu đỏ BKS: 30P2-0275, số khung: 029246, số máy: 029246 đã thu giữ của bị cáo và thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu. Sau 12 tháng kể từ ngày thông báo mà không tìm được ai là chủ sở hữu thì tịch thu sung công.

(Tang vật hiện giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm theo biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 11/9/2020)

5. Án phí, quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ