- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thành Lợi - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thành L; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 164/2020/HS-PT Ngày: 04-12-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Hiền
Các Thẩm phán: Ông Phan Văn Thuấn
Ông Lê Trọng Hân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 132/2020/TLPT-HS ngày 28 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo Võ Thành L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 101/2020/HS-ST ngày 25/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Võ Thành L (Út Rượu), sinh năm 1980 tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp CTT, xã CD, huyện PQ, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Công L1 và bà Trương Thị Kim D; anh chị em ruột có 09 người, lớn nhất sinh năm 1959, nhỏ nhất sinh năm 1978; vợ Lê Kim Hg (đã ly hôn); con 01 người sinh năm 2002; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 28/3/2019 bị Chủ tịch UBND xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, ngày 29/6/2019 chấp hành xong; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2020 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 17/7/2020, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Võ Thành L ngồi tại quán cà phê ĐT thuộc ấp SĐ, xã DT, huyện PQ, Kiên Giang, L dùng điện thoại gọi cho người tên S (chưa rõ nhân thân) hỏi mua ma túy. Sau đó có người thanh niên đến quán cà phê chở L đến con hẻm gần quán ĐT bán cho L 01 bịch ma túy với giá 500.000 đồng. Sau khi mua ma túy, L bỏ bịch ma túy vào ống tay áo L đang mặc, đi lại quán tiếp tục uống cà phê. Đến khoảng 17 giờ 30 phút, lực lượng Công an huyện Phú Quốc kiểm tra phát hiện L đang tàng trữ trái phép chất ma túy nên lập biên bản quả tang.
Vật chứng thu giữ:
- 01 bịch nylon màu trắng được hàn kín, kích thước 1,6cm x 04cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất, đã được niêm phong;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu bạc, bị vỡ màn hình, số IMEI 1: 353317095077203, số IMEI 2: 3353318095077201, đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 594/KL-PY ngày 22/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:
Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất được đựng trong bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3631gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định số 37/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 594/KL-PY ngày 22/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
Tại Bản án sơ thẩm số: 102/2020/HSST ngày 25/9/2020 Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;
Tuyên bố: Bị cáo Võ Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Võ Thành L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 17/7/2020.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/10/2020 bị cáo Võ Thành L có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: Mức án cao.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về tội danh của bị cáo là phù hợp. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện vụ án, áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ đúng quy định. Tại phiên tòa bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:
Xét đơn kháng cáo của bị cáo về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
Về quyết định của bản án sơ thẩm:
Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 17/7/2020 tại quán cà phê ĐT thuộc ấp SĐ, xã DT, huyện PQ, Kiên Giang lực lượng công an huyện Phú Quốc bắt quả tang Võ Thành L đang tàng trữ trái phép chất ma túy khối lượng 0,3631gam, qua giám định là ma túy loại Methamphetamine. Do vậy Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc đã xử phạt bị cáo Võ Thành L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Bị cáo Võ Thành L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử thấy rằng cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án 01 năm 06 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới để HĐXX xem xét nên kháng cáo của bị cáo không có cơ sở chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về quan điểm của Viện kiểm sát: Thống nhất về tội danh, về hình phạt đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm là có căn cứ HĐXX chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ Luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thành L; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Võ Thành L (Út Rượu) 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 17/7/2020.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Võ Thành L phải nộp án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 102/2020/HS-ST ngày 25/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Vụ giám đốc Kiểm tra (1); - TAND Cấp cao tại TP.HCM (1); - VKSND Cấp cao tại TP.HCM (1); - VKSND tỉnh Kiên Giang (1); - Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang (1); - Phòng HSNV CA tỉnh KG (1); - Tổ HCTP (1); - TAND huyện Phú Quốc (1); - THA huyện Phú Quốc (1); - VKSND huyện Phú Quốc (1); - CQCSĐT huyện Phú Quốc (1); - Bị cáo kháng cáo (1); - Lưu hồ sơ (1) - Lưu Tòa hình sự (5). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Diệu Hiền |