vanban.org

Bản án 164/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 08/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nhâm Văn Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2019/HSST
Ngày 08 - 10 - 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Trần Hồng Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Tiến Thịnh

2. Bà Phạm Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án n hân dân thành phố Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm , công khai vu ̣ án hinh sự thu ̣ lý

số

̀ 164/2019/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2019, theo Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số 171/2019/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 9 năm 2019, đối vớ i bi ̣ cáo:

Nhâm Văn Đ, sinh ngày 16 tháng 6 năm 1993 tại T; Nơi cư trú: thôn Q, xã V, huyện K, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nhâm Văn T và bà Mai Thị N; Có vợ là Lại Thị T và 01 con sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ từ ngày 03/6/2019 đến ngày 06/6/2019 chuyển tạm giam đến nay; Trích xuất, Có mặt .

* Người chứng kiến:

- Ông Nguyễn Văn L , sinh năm 1966; Trú tại: số nhà 19, tổ 09, phườ ng T, thành phố T, tỉnh T. Vắng mặt

- Ông Đào Vinh Q , sinh năm 1954; Trú tại: số nhà 10, tổ 07, phường T, thành phố T, tỉnh T. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ Á N:

Theo các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ á n và diễn biến ta ̣i phiên tòa, nô ̣i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 03/6/2019, Nhâm Văn Đ đi bộ đến khu vực nhà văn hóa thôn Đ2, xã P, thành phố T thì gặp một người nam giới tên T khoảng 50 tuổi không rõ họ tên đầy đủ, không biết địa chỉ, điều khiển xe mô tô (không rõ đặc điểm, biển số). Người nam giới tên T rủ Đ đi mua ma túy về sử dụng chung, nhưng Đ không có tiền nên T đưa cho Đ 300.000 đồng. Đ cầm tiền cho vào túi quần bên phải đang mặc, sau đó T điều khiển xe mô tô chở Đ đến khu vực đường L, tổ 02, xã P, thành phố T thì dừng xe đứng ngoài chờ còn Đ đi bộ vào trong khu vực đường Q, tổ 02, xã P, thành phố T. Tại đây, Đ gặp và mua của một người phụ nữ tên Q khoảng 30 tuổi (không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ) 01 túi ma túy với giá 300.000 đồng. Đ cất gói ma túy vừa mua vào túi quần bên phải đang mặc, đi bộ ra chỗ T đứng chờ. Đến 02 giờ cùng ngày, khi Đ đi đến khu vực tổ 05, đường Q, phường T, thành phố T thì bị tổ công tác của Công an phường T, thành phố T yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn L và ông Đào Quang V, Đ tự giác lấy từ túi quần bên phải giao nộp cho tổ công tác một túi nilon trong suốt có mép cài, viền màu xanh, bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt, Đ khai là ma túy đá Đ vừa mua để Đ và T cùng sử dụng. Thu tại túi quần bên phải của Đ một điện thoại Iphone 6 màu trắng xám đã cũ. Sau đó tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng.

Tại bản kết luận giám định số 202/KLGĐ-PC09 ngày 03/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luâ ̣n: Chất tinh thể trong suốt trong phong bì niêm phong ghi “Vật chứng thu giữ của Nhâm Văn Đ ngày 03/6/2019 là ma tú y, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4389gam”.

Tại bản cáo trạng số 171/CT-VKSTP ngày 27 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh truy tố Nhâm Văn Đ về tô ̣i “Tàng trữ

̀

trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t Hình sự.

Tại phiên tòa , trong phần tranh luận Kiểm sát viên luận tội bị cáo giữ nguyên quan điểm tr uy tố , đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nhâm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ; Áp du ̣ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Điều 50 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Nhâm Văn Đ mứ c án t ừ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu số ma túy trong phong bì niêm phong số 202/KLGĐ mẫu vật hoàn lại sau giám định để tiêu hủy; Tuyên trả lại cho Nhâm Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng xám, đã cũ. Nhưng quản lý để đảm bảo thi hành án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa , Nhâm Văn Đ đa kha i và thừa nhâ ̣̃

n toàn bô ̣ hành vi của mình như n ội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận với luận tội của kiểm sát viên.

Khi trình bày lờ i nói sau cùng: Bị cáo xin Hô ̣i đồngxét xử giảm nhe ̣ hinh pha ̣. t

̀

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án , căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vu ̣ án đa ̃ được tranh tụng tại phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n định như sau:

[1] Về hành vi , quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Binh , Điều tra viên , Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh ,

̀

̀ Kiểm sát viên trong quá trinh điều tra , truy tố đa thự̃

c hiê ̣n đúng về thẩm quyền ,

̀ trình tự, thủ tục quy định của Bộ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự . Quá trình điều tra và ta ̣i

̀ phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoă ̣c khiếu na ̣i về hành vi, quyết đi ̣nh của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng , ngườ i tiến hành tố tu ̣ng . Do đó, các hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng , ngườ i tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Lờ i khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến là ông Nguyễn Văn L và ông Đào Quang V được chứng minh bằng biên bản bắt ngườ i pha ̣m tô ̣i quả tang, biên bản niêm phong vâ ̣t chứ ng và bản kết luận giám định 202/KLGĐ - PC09 ngày 03/6/2019 cùng các tài liệu, chứ ng cứ đã đư ợc thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ ngày 03/6/2019, tại khu vực đường Q, thuộc tổ 05, phường T, thành phố Thái Bình Nhâm Văn Đ đã bị Công an bắt quả tang tàng trữ trái phép 0,4389 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân.

[3] Bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của minh , hiểu rõ tác hại của ma túy và hành vi tàng trữ trái phép

̀ chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiê ̣n. Hành vi đó của Nhâm Văn Đ đã phạm tô ̣i “Tà ng trữ trá i phé p chất ma tú y” . Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự như Cáo trạng của

̀ Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố là có căn cứ.

Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự quy đi ̣nh:

̀

“1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a)…..

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm pha ̣m đến quy định quản lý của Nhà nướ c về chất gây nghiê ̣n , gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội, đi ngược lại cuộc đấu tranh quyết liệt của nhà nước và nhân dân ta nhằm đẩy lùi, loại bỏ tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống xã hội nên tính chất vụ án là nghiêm trọng, cần xử phạt nghiêm minh trước pháp luật.

[5] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bản thân có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhe ̣ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào ti nh chất, mứ c đô ̣ nguy hiểm của hành vi pha ̣m tô ̣i , đặc điểm

́ nhân thân và tình tiết giảm nhe ̣ trách nhiê ̣m hinh sự, Hội đồng xét xử lên mức án

̀

tương xứ ng vớ i hành vi pha ̣m tô ̣i, đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[6] Bị cáo tàng trữ Methmphetamine với mục đích để sử du ̣ng do nghiện ma túy, bản thân không có việc làm, thu nhập không ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối vớ i bi ̣ cáo.

[7] Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua của mô ̣t người phụ nữ tên Q, tiền mua ma túy do nam giới tên T đưa mua sử dụng chung. Quá trình điều tra đã xác minh nhưng Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

[8] Về xử lý vật chứng : Số ma túy thu giữ hoàn lại sau giám định là chất thuô ̣c danh mục Nhà nướ c cấm lưu hành cần ti ̣ch thu để tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng xám quản lý của bị cáo, qua điều tra xác định các tài sản trên không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 46; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; khoản 1 Mục I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bi ̣ cáoNhâm Văn Đ phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: Xử pha ̣t bị cáo Nhâm Văn Đ 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 03/6/2019.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu 0,3807 gam Methamphetamine niêm phong trong phong bì số 202/KLGĐ (mẫu vật hoàn trả sau giám định) để tiêu hủy.

Trả lại cho Nhâm Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng xám. Nhưng quản lý để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng và tài sản đã chuyển Chi cục Thi hành án dân s ự thành phố Thái Bình quản lý có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/8/2019).

4. Về án phi: Bị cáo Nhâm Văn Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng

́ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nhâm Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong thờ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/10/2019.

̀

̉ SƠ THẨ Nơi nhận:

Cỡ chữ