- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ C .
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 164/2019/HNGĐ-ST Ngày: 30-7-2019 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Tiến Dũng.
2. Ông Nguyễn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Dư là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường-Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 86/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2019, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 919/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ C , sinh năm 1976; cư trú tại thôn A X 1, xã M C , huyện P M , tỉnh Bình Định; có mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Vĩnh L , sinh năm 1976; cư trú tại thôn A X 1, xã M C , huyện P M , tỉnh Bình Định; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 04 tháng 4 năm 2019, tại lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ C trình bày: Bà và chồng của bà là ông Trần Vĩnh L kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M C , huyện Phù M , tỉnh Bình Định vào ngày 12 tháng 5 năm 1998. Trước khi kết hôn, giữa bà và ông Trần Vĩnh L tìm hiểu một thời gian rồi tự nguyện đăng ký kết hôn chứ không ai ép buộc, lừa dối. Sau khi kết hôn vợ chồng của bà sống chung với nhau tại nhà cha, mẹ của ông Trần Vĩnh L nhưng vợ chồng chỉ sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc ông Trần Vĩnh L không có trách nhiệm gì với gia đình; hàng ngày ông Trần Vĩnh L làm nghề lái xe vận chuyển hành khách thu nhập ổn định nhưng ông Trần Vĩnh L chỉ lo cho bản thân chứ không lo lắng gì đối với bà và các con. Khi vợ chồng nói chuyện với nhau thì ông Trần Vĩnh L chửi bới, đánh đập bà. Bà và ông Trần Vĩnh L không có bất kỳ biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng; không ai còn quan tâm đến ai. Nay quan hệ hôn nhân của vợ chồng bà đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm gì với nhau, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Vĩnh L .
Trong thời gian chung sống vợ chồng của bà có 04 người con chung là anh Trần D , sinh ngày 01 tháng 10 năm 1998; chị Trần Thụy Linh C , sinh ngày 02 tháng 7 năm 2001; cháu Trần Duy K , sinh ngày 18 tháng 11 năm 2002; cháu Trần Duy Kh , sinh ngày 20 tháng 8 năm 2004. Bà yêu cầu giao con chung là cháu Trần Duy K , cháu Trần Duy Kh cho bà trực tiếp nuôi dưỡng; bà không yêu cầu ông Trần Vĩnh L cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung là anh Trần D , chị Trần Thụy Linh C đã thành niên nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung của vợ chồng. Hiện nay vợ chồng của bà không phải thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản đối với ai khác nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra bà không trình bày và yêu cầu gì thêm.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đã tiến hành tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho bị đơn ông Trần Vĩnh L tham gia tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Trần Vĩnh L cũng không có mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Mỹ Châu, cho bà Nguyễn Thị Mỹ C được ly hôn với ông Trần Vĩnh L ; giao con chung của bà Nguyễn Thị Mỹ C và ông Trần Vĩnh L là cháu Trần Duy K và cháu Trần Duy Kh cho bà Nguyễn Thị Mỹ C trực tiếp nuôi dưỡng; bà Nguyễn Thị Mỹ C không yêu cầu ông Trần Vĩnh L cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Đối với con chung là anh Trần D và chị Trần Thụy Linh C đã thành niên nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Bà Nguyễn Thị Mỹ C không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản; ông Trần Vĩnh L cũng không có ý kiến, yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Các tài liệu, chứng cứ do các đương sự giao nộp gồm: Trích lục kết hôn số 158/2019/TLKH-BS do Ủy ban nhân dân xã Mỹ Chánh, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định cấp ngày 04 tháng 4 năm 2019 (Bản sao); giấy khai sinh của anh Trần D, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1998; chị Trần Thụy Linh C , sinh ngày 02 tháng 7 năm 2001; cháu Trần Duy K , sinh ngày 18 tháng 11 năm 2002; cháu Trần Duy Kh , sinh ngày 20 tháng 8 năm 2004 (Bản sao); giấy chứng minh nhân dân của bà Nguyễn Thị Mỹ C (Bản photocoppy); sổ hộ khẩu hộ gia đình của bà Nguyễn Thị Mỹ C (Bản sao).
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ C và bị đơn ông Trần Vĩnh L đăng ký kết hôn vào ngày 12 tháng 5 năm 1998 tại Ủy ban nhân dân xã M C , huyện P M , tỉnh Bình Định. Nay bà Nguyễn Thị Mỹ C yêu cầu ly hôn với ông Trần Vĩnh L ; bà Nguyễn Thị Mỹ C yêu cầu giao con chung là cháu Trần Duy K , sinh ngày 18 tháng 11 năm 2002; cháu Trần Duy Kh , sinh ngày 20 tháng 8 năm 2004 cho bà Nguyễn Thị Mỹ C trực tiếp nuôi dưỡng; bà Nguyễn Thị Mỹ C không yêu cầu ông Trần Vĩnh L cấp dưỡng nuôi con. Bà Nguyễn Thị Mỹ C không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản. Ông Trần Vĩnh L không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham gia tố tụng tại phiên tòa mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại thời điểm thụ lý vụ án và hiện nay ông Trần Vĩnh L cư trú thôn A X 1, xã M C , huyện P M , tỉnh Bình Định nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Trần Vĩnh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Trần Vĩnh L .
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ C và ông Trần Vĩnh L đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã M C , huyện P M , tỉnh Bình Định chứng nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 34/1998 ngày 12 tháng 5 năm 1998. Việc kết hôn giữa bà Nguyễn Thị Mỹ C và ông Trần Vĩnh L tuân theo các điều kiện quy định tại các điều 5, 6, 7, 8 của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 nên hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Mỹ C và ông Trần Vĩnh L là hợp pháp. Bà Nguyễn Thị Mỹ C yêu cầu ly hôn với ông Trần Vĩnh L vì cho rằng ông Trần Vĩnh L không có trách nhiệm gì với gia đình; hàng ngày ông Trần Vĩnh L làm nghề lái xe vận chuyển hành khách thu nhập ổn định nhưng ông Trần Vĩnh L chỉ lo cho bản thân chứ không có trách nhiệm gì đối với bà và các con. Khi bà gặp ông Trần Vĩnh L để tìm cách khuyên bảo với mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng thì ông Trần Vĩnh L có hành vi đánh đập bà. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án thu thập các tài liệu, chứng cứ xác định nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị Mỹ C và ông Trần Vĩnh L để tiến hành hòa giải nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng bà Nguyễn Thị Mỹ C , ông Trần Vĩnh L nhưng ông Trần Vĩnh L không đến Tòa án để tham gia hòa giải và tại phiên tòa hôm nay ông Trần Vĩnh L tiếp tục vắng mặt. Do đó có căn cứ chứng minh hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Mỹ C và ông Trần Vĩnh L đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên theo quy định tại các điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét cho bà Nguyễn Thị Mỹ C được ly hôn với ông Trần Vĩnh L .
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ C yêu cầu giao con chung là cháu Trần Duy K , sinh ngày 18 tháng 11 năm 2002 và cháu Trần Duy Kh , sinh ngày 20 tháng 8 năm 2004 cho bà Nguyễn Thị Mỹ C trực tiếp nuôi dưỡng; bà Nguyễn Thị Mỹ C không yêu cầu ông Trần Vĩnh L cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, bà Nguyễn Thị Mỹ C là người đang trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, cháu Trần Duy K và cháu Trần Duy Kh đều có nguyện vọng ở với mẹ; ông Trần Vĩnh L không ý kiến gì đối với yêu cầu trên của bà Nguyễn Thị Mỹ C . Để bảo đảm quyền lợi mọi mặt của cháu Trần Duy K và cháu Trần Duy Kh , Hội đồng xét xử giao cháu Trần Duy K và cháu Trần Duy Kh cho bà Nguyễn Thị Mỹ C trực tiếp trông nôm, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà Nguyễn Thị Mỹ C không yêu cầu ông Trần Vĩnh L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét. Ông Trần Vĩnh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng ông Trần Vĩnh L không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bà Nguyễn Thị Mỹ C . Khi cần thiết bà Nguyễn Thị Mỹ C và ông Trần Vĩnh L đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các điều 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Đối với con chung là anh Trần D , sinh ngày 01 tháng 10 năm 1998 và chị Trần Thụy Linh C , sinh ngày 02 tháng 7 năm 2001 hiện nay đã thành niên; bà Nguyễn Thị Mỹ C không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Bà Nguyễn Thị Mỹ C không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản. Ông Trần Vĩnh L không có ý kiến, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bà Nguyễn Thị Mỹ C phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà Nguyễn Thị Mỹ C đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0000766 ngày 23 tháng 4 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm c khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ C .
1. Về quan hệ hôn nhân:
Cho bà Nguyễn Thị Mỹ C ly hôn với ông Trần Vĩnh L .
Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Mỹ C và ông Trần Vĩnh L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 34/1998 do Ủy ban nhân dân xã M C , huyện P M , tỉnh Bình Định chứng nhận ngày 12 tháng 5 năm 1998 chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung:
Giao con chung của bà Nguyễn Thị Mỹ C và ông Trần Vĩnh L là cháu Trần Duy K , sinh ngày 18 tháng 11 năm 2002 và cháu Trần Duy Kh , sinh ngày 20 tháng 8 năm 2004 cho bà Nguyễn Thị Mỹ C trực tiếp trông nôm, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; hiện nay bà Nguyễn Thị Mỹ C đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Duy K và cháu Trần Duy Kh . Bà Nguyễn Thị Mỹ C không yêu cầu ông Trần Vĩnh L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
Ông Trần Vĩnh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng ông Trần Vĩnh Long không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bà Nguyễn Thị Mỹ C . Khi cần thiết bà Nguyễn Thị Mỹ C và ông Trần Vĩnh L đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các điều 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Đối với con chung của bà Nguyễn Thị Mỹ C và ông Trần Vĩnh L là anh Trần D , sinh ngày 01 tháng 10 năm 1998 và chị Trần Thụy Linh C , sinh ngày 02 tháng 7 năm 2001 hiện nay đã thành niên; bà Nguyễn Thị Mỹ C không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.
3. Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Bà Nguyễn Thị Mỹ C không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản. Ông Trần Vĩnh L không có ý kiến, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ C phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà bà Nguyễn Thị Mỹ C đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000766 ngày 23 tháng 4 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện P M , tỉnh Bình Định.
5. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 30 tháng 7 năm 2019). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Viện kiểm sát nhân dân huyện P M ,
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA tỉnh Bình Định;
- Chi cục thi hành án dân sự huyện P M , tỉnh Bình Định;
- Ủy ban nhân dân xã M C h, huyện P M , tỉnh Bình Định;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
Văn Công Minh
- Lưu Văn thư. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định; - Ủy ban nhân dân thị trấn Phù Mỹ, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Công Minh |