vanban.org

Bản án 164/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn K 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03-7-2018. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào các điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự Nguyễn Tuấn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2018/HS-ST
Ngày 14-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hiền;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Quốc Quân;

2. Ông Phạm Quang Trí.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thuyến - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 168/2018/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2018 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2018/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1990 tại Tây Ninh; nơi thường trú: Khu phố N, phường T, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh; nơi tạm trú: Khu phố An Thành, phường B, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1955 và bà Phan Thị N, sinh năm 1957 (đã chết); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2018 cho đến nay; có mặt.

Nhân thân: Tại Bản án số 101/2009/HSPT ngày 13/5/2009 của Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13/6/2011 và chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự và án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 25/3/2009.

Người làm chứng:

1. Cháu Nguyễn Trọng P, sinh năm 2002; vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu Phúc: Bà Nguyễn Duy T, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ 2, khu phố B, phường T, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; xin vắng mặt.

2. Ông Trần Hoàng T, sinh năm 1990; nơi thường trú: Khu phố 3, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi tạm trú: Khu phố P, phường T, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

3. Ông Võ Thành D, sinh năm 1997; nơi thường trú: Ấp G, xã N Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre; nơi tạm trú: Khu phố P, phường T, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tuấn K, là đối tượng sử dụng ma túy từ khoảng tháng 01/2018, loại ma túy mà K sử dụng là ma túy đá (Methamphetamine). K với Trần H Tú, Võ Thành Dvà Nguyễn Trọng Pcó mối quan hệ bạn với nhau.

Khoảng 15 giờ ngày 03/7/2018, Nguyễn Tuấn K đi bộ từ phòng trọ thuộc khu phố P, phường Ta, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đến ngã tư Miếu Ông Cù đón xe buýt đến khu vực gần ngã ba cầu vượt Trạm 2 thuộc quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm mua 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) ma tuý về sử dụng. Sau khi giao tiền thì K nhận ma tuý để trong gói thuốc lá Jet bên trong có 01 bịch nylon miệng kéo dính và 01 bịch nylon hàn kín đều có chứa ma túy đá, K cất gói thuốc lá Jet có chứa 02 bịch ma túy vào người rồi đón xe buýt quay về phòng trọ cất giấu. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, K điện thoại rủ T đến khu vực Đình thần Thái Hòa thuộc khu phố P, phường T thị xã Tân Uyên để chơi, Tđồng ý. Sau khi điện thoại cho T thì K đi bộ đến tiệm sửa xe mô tô A tại khu phố A, phường Thái Hòa do ông Đỗ Công D làm chủ hỏi mượn xe mô tô biển số 85E1-03052 của ông D và nói với ông D là đi công việc một chút, ông D đồng ý và giao xe mô tô biển số 85E1-03052 cho K. Sau khi mượn được xe, K điều khiển xe 85E1-03052 đến Đình thần Thái Hòa gặp T như đã hẹn, K và T ngồi chơi ở nhà bếp của Đình thần Thái Hòa đến khoảng 20 giờ 15 phút, thì K nhận được điện thoại của P hỏi K đang ở đâu, thì K bảo đang ở Đình thần Thái Hòa, đồng thời K rủ P đến chơi. Khoảng 15 phút sau, P điều khiển xe mô tô biển số 61S2-4137 chở Võ Thành D đến Đình thần Thái Hòa. Khi đến đây, P đưa cho K số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) và nói với Kiệt là Phúc góp tiền để K mua ma túy về cùng nhau sử dụng (K, T, P và D đã nhiều lần sử dụng ma túy cùng nhau) và K nhận lấy số tiền 200.000 đồng rồi nói với T, P và D là đi một lát về, rồi K điều khiển xe 85E1-030.52 đi về phòng trọ của K lấy gói thuốc Jet bên trong có ma túy đá rồi quay lại Đình thần Thái Hòa. Tại đây, K lấy 01 bịch ma túy miệng kéo dính trong gói thuốc lá Jet ra, tách một phần ma túy bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế rồi bỏ lại bịch ma túy này vào trong gói thuốc lá Jet và cất trong túi quần phía sau bên phải chiếc quần K đang mặc rồi cùng với P, D và T sử dụng ma túy. Số tiền 200.000 đồng P đưa cho K hùn mua ma túy sử dụng, trong quá trình đi về phòng trọ lấy ma túy K làm rơi ở đâu không rõ. Sau khi vừa sử dụng ma túy xong, T nhìn thấy lực lượng Công an phường Thái Hòa đến kiểm tra nên T bỏ chạy thoát ra khỏi Đình thần Thái Hòa, còn lại K, D và P bị tổ kiểm tra giữ lại và yêu cầu kiểm tra hành chính. Lúc này, K lấy từ túi quần phía sau bên phải K đang mặc ra một gói thuốc lá Jet màu trắng và lấy từ bên trong gói thuốc lá Jet ra 01 (một) bịch nylon miệng kéo dính và 01 (một) bịch nylon hàn kín, cả hai đều chứa ma túy đá. K khai nhận đây là ma túy đá của K cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Tổ kiểm tra tiến hành niêm phong 02 bịch ma túy đá này có sự chứng kiến, ký tên của K, D và P. Sau đó, đưa K, D và P cùng tang vật về trụ sở Công an phường Thái Hòa làm việc và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật gồm: 02 (Hai) bịch nylon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (Một) điện thoại di động Nokia màu đỏ, 01 (một) xe mô tô biển số 85E1-030.52.

Công an phường Thái Hòa lập hồ sơ ban đầu và tiến hành bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên thụ lý theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận giám định số 403/MT-PC54 ngày 6/7/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,5173 gam (M1); 0,0992 gam (M2), loại Methamphetamine.

Bản Cáo trạng số 169/QĐ-KSĐT ngày 11/10/2018 của VKSND thị xã Tân Uyên truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt và điều luật áp dụng: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K mức án từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù.

- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng các điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong dán kín có ký hiệu 403/PC54, có chữ ký của người bị bắt Nguyễn Tuấn K, người chứng kiến Võ Thành D, Nguyễn Trọng P, Nguyễn Duy T(mẹ của Nguyễn Trọng P), cán bộ niêm phong Bùi Thanh Đ, đại úy Huỳnh Minh Đ (Phó trưởng Công an phường Thái Hòa), hình dấu mộc đỏ của Công an phường Thái Hòa, thị xã Tân Uyên và hình dấu mộc đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong có chứa Methamphetamine theo kết luận giám định số 403/PC54 ngày 06/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương;

+ Trả lại cho bị cáo: 01 (Một) điện thoại di động Nokia 105, màu đỏ, IMEI: 354272/06/009253/0, có một sim, không kiểm tra máy bên trong.

+ Đối với xe mô tô biển số 85E1-030.52 thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Thu H. Tuy nhiên, bà H không có lỗi khi bị cáo dùng xe vào việc phạm tội, cơ quan điều tra trả lại xe cho bà H là phù hợp pháp luật nên không đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Trong phần trình bày lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là sai trái, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Tân Uyên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Tân Uyên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là đúng thẩm quyền và đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội danh và khung hình phạt: Lời khai của bị cáo Nguyễn Tuấn K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo đã khai báo tại cơ quan điều tra, về quá trình thực hiện hành vi phạm tội cũng như vật chứng thu giữ trong vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Ngày 03/7/2018, bị cáo Nguyễn Tuấn K có hành vi tàng trữ 0,6165 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước. Khi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn K về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người đúng tội và đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ tội phạm và nhân thân bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp thuận.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào các điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thấy:

Đối với 01 bì thư niêm phong dán kín có ký hiệu 403/PC54, có chữ ký của người bị bắt Nguyễn Tuấn K, người chứng kiến Võ Thành D, Nguyễn Trọng P, Nguyễn Duy T (mẹ của Nguyễn Trọng P), cán bộ niêm phong Bùi Thanh Đ, đại úy Huỳnh Minh Đ (Phó trưởng Công an phường Thái Hòa), hình dấu mộc đỏ của Công an phường Thái Hòa, thị xã Tân Uyên và hình dấu mộc đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong có chứa Methamphetamine theo kết luận giám định số 403/PC54 ngày 06/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương là vật chứng liên quan đến việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu huỷ.

Đối với 01 (Một) điện thoại di động Nokia 105, màu đỏ, IMEI: 354272/06/009253/0, có một sim, không kiểm tra máy bên trong không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Đối với xe mô tô biển số 85E1-030.52 thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Thu H. Bà H không có lỗi khi bị cáo dùng xe vào việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại xe cho bà H là phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn K 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03-7-2018.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào các điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) bì thư niêm phong dán kín có ký hiệu 403/PC54, có chữ ký của người bị bắt Nguyễn Tuấn K, người chứng kiến Võ Thành D, Nguyễn Trọng P, Nguyễn Duy T (Mẹ của Nguyễn Trọng P), cán bộ niêm phong Bùi Thanh Đ, đại úy Huỳnh Minh Đ (Phó trưởng Công an phường Thái Hòa), hình dấu mộc đỏ của Công an phường Thái Hòa, thị xã Tân Uyên và hình dấu mộc đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong có chứa Methamphetamine theo Kết luận giám định số 403/PC54 ngày 06/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương;

- Trả lại cho bị cáo: 01 (Một) điện thoại di động Nokia 105, màu đỏ, IMEI: 354272/06/009253/0, có một sim, không kiểm tra máy bên trong.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15-11-2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Tuấn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ