vanban.org

Bản án 164/2018/HS-PT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 26/09/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/09/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Văn Tiên, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xử phạt: Đinh Văn Tiên 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, ngày 08/02/2018 Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Đinh Văn Tiên phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "lê C mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Văn Tiên, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2018/HS-PT
Ngày 26-9-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cảnh

Các Thẩm phán:

Ông Trần Minh Long

Ông Phan Vĩnh Chuyển

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Loan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đãi Em - Kiểm sát viên.

Ngày 26/9/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 154/2018/TLPT-HS ngày 06/9/2018 đối với bị cáo Lê C do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2018/HS-ST ngày 26/7/2018 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lê C, sinh ngày 16/4/1991 tại Quảng Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Thợ điện; Con ông Lê Th (s) và bà Võ Thị Tường V (s); Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 13/01/2018. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 21h45’ ngày 12/01/2018, trước quán bar Ph (đường Đ, phường Th, quận H, Tp Đà Nẵng), công an phường Thuận Phước và phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy công an thành phố Đà Nẵng bắt quả tang Nguyễn Văn D đang cất giữ 16 viên ma túy, loại MDMA khối lượng 5,525 gam.

Vào lúc 03 giờ ngày 13/01/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Đà Năng đã khám xét nơi ở của Nguyễn Văn D thu giữ 63 viên ma túy), loại loại MDMA khối lượng 21,798 gam và 01 cân điện tử.

Quá trình điều tra xác định được 16 viên ma túy thu giữ của Nguyễn Văn D khi bị bắt quả tang là nằm trong số 20 viên ma túy do Lê C lấy và vận chuyển từ phòng trọ của Nguyễn Văn D đem đến quán bar Fx trên đường Ch, quận H cho D để bán lại cho các con nghiện ma túy. Sau khi nhận ma túy, D bán được 04 viên với giá 1.600.000 đồng cho một thanh niên (chưa xác định được lai lịch) tại quán bar Fx và sau đó tiếp tục đem theo 16 viên ma túy còn lại đến quán bar Đ để bán nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang.

Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2017 đến ngày bị bắt quả tang D đã mua ma túy của một người thanh niên ở đường Ninh Tốn, quận Liên Chiểu bán lại cho các con nghiện, trong đó bán cho Lê V 05 lần (từ tháng 8/2017 đến ngày 03/01/2018), 03 lần bán cho một số con nghiện khác chưa xác định được lai lịch.

Tại Bản án sơ thẩm số 44/2018/HS-ST ngày 26/7/2018 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã quyết định:

Căn cứ vào: điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

Xử phạt: Lê C 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/01/2018.

Bản án sơ thẩm còn tuyên về phần hình phạt đối với Nguyễn Văn D nhưng bị cáo này không có kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị, về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí và thông báo quyền kháng cáo bản án.

Ngày 06/8/2018, bị cáo Lê C có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xử nặng, xin xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê C theo đúng thủ tục và trong thời hạn kháng cáo. Xét về nội dung đơn kháng cáo của bị cáo thì thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2018/HS-ST ngày 26/7/2018 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội. Về mức án, án sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 năm tù là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê C, giữ nguyên án sơ thẩm.

Bị cáo Lê C vẫn giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đơn kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Mặc dù biết rõ Nguyễn Văn D có hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng tối ngày 12/01/2018 khi được Nguyễn Văn D nhờ lấy giùm 20 viên ma túy từ phòng trọ của D tại khu vực đường Nguyễn Khuyến mang đến cho D thì bị cáo Lê C đã về phòng trọ của D lấy 20 viên ma túy mang đến quán bar Fx đưa cho D đi bán. Sau khi D bán được 04 viên, vào lúc 21h45’ ngày 12/01/2018, D bị công an phường Thuận Phước và phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy công an thành phố Đà Nẵng bắt quả tang, thu giữ 16 viên ma túy (loại MDMA) có khối lượng 5,525 gam.

Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2018/HS-ST ngày 26/7/2018 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã xét xử bị cáo Lê C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng tội.

. Xét kháng cáo của bị cáo Lê C thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Loại ma túy bị cáo giúp Nguyễn Văn danh mua bán là MDMA với khối lượng trên 5 gam. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xử phạt bị cáo mức án 07 năm tù là đã ở mức thấp nhất của khung hình phạt, không nặng. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm a Khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào: điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

Xử phạt: Lê C 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/01/2018.

2. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Lê C phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- VKSND thành phố Đà Nẵng;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Phòng HSNV – CA Tp Đà Nẵng;

(đã ký)

- VKSND quận Hải Châu;

- Cơ quan CSĐT CA. quận Hải Châu;

- Toà án nhân dân quận Hải Châu;

- CQ THAHS – CA quận Hải Châu;

- Vụ GĐKT I – TAND tối cao;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu HS.

Nguyễn Thị Cảnh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các Thẩm phán

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Đức Kỳ

Phan Vĩnh Chuyển

Nguyễn Thị Cảnh

ơ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: ...../2018/HS-PT

Ngày 28-8-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Đức Kỳ

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Cảnh

Ông Phan Vĩnh Chuyển

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Loan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đãi Em - Kiểm sát viên.

Ngày 28/8/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2018/TLPT-HS ngày 09/7/2018 đối với bị cáo Đinh Văn Tiên do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2018/HS-ST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Đinh Văn Tiên (Xí), sinh ngày 20/8/1997 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn phước Bắc, xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam; Tạm trú: Thôn Phong Lục Tây, xã Điện Thắng Nam, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; Trình độ văn hóa: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Con ông Nguyễn Văn Sự (c) và bà Hồ Thị Xuân (s); Có vợ (chưa đăng ký kết hôn) là ............. và có 01 con sinh năm .....; Tiền án: Ngày 17/4/2017 bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: Chưa; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08/02/2018. Có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn bị cáo Tưởng Phước Thành nhưng bị cáo này không có kháng cáo và không bị kháng cáo kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 08/02/2018, Đinh Văn Tiên điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 43S8-7932 chở Tưởng Phước Thành đi từ xã Hòa Khương, quận Thanh Khê về xã Điện Hòa, thị xã Điện Bàn, tỉnh quảng Nam. Khi đến đoạn đường thuộc thôn Nhơn Hòa 1, xã Hòa Phước, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Thành phát hiện xe mô tô hiệu Jupiter màu đen đỏ, BKS 92F1-009.78 của ông Trần Khoa Thế đnag dựng trước hiên nhà, không có người trông côi nên nảy sinh ý định trộm cắp. Thành rủ Phiên tham gia trộm cắp xe mô tô nói trên thì Phiên đồng ý. Thành bảo Phiên dừng xe đứng ngoài cảnh giới còn Thành lén lút tiếp cận xe mô tô và dắt trộm.

Sau khi lấy trộm được xe thì Thành và Phiên đem xe về tiệm sửa xe ở thôn phong Lục, xã Điện Thắng, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nhờ chủ tiệm nối dây điện để nổ máy thì chủ tiệm đồng ý. Sau đó Thành và Phiên quay lại phòng trọ, Thành gọi cho Huỳnh Phước Thành cầm giúp chiếc xe Jupiter thì Huỳnh Phước Thành đồng ý. Huỳnh Phước Thành và Tưởng Phước Thành hẹn gặp nhau ở tiệm sửa xe, tại đây, Huỳnh Phước Thành đưa cho Tưởng Phước Thành 2.000.000 đồng rồi lấy xe Jupiter mang về. Số tiền cầm được Thành đưa cho Phiên 700.000 đồng.

Giá trị tài sản Tưởng Phước Thành và Đinh Văn Tiên chiếm đoạt là 13.500.000 đồng.

Tại Bản án sơ thẩm số 55/2018/HS-ST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã quyết định:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Đinh Văn Tiên 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, ngày 08/02/2018.

Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án.

Ngày ..............., bị cáo Đinh Văn Tiên có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xử nặng, xin được xét xử theo trình tự phúc thẩm để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Đơn kháng cáo của bị cáo Đinh Văn Tiên theo đúng thủ tục và trong thời hạn kháng cáo. Xét về nội dung đơn kháng cáo của bị cáo thì thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2018/HS-ST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có cơ sở, đúng pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo Đinh Văn Tiên vẫn giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đơn kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đinh Văn Tiên khai nhận: Vào khoảng 12 giờ ngày 08/02/2018, tại thôn Nhơn Thọ 1, xã Hòa Phước, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, lợi dụng sơ hở của ông Trần Khoa Thế trong việc quản lý tài sản, Tưởng Phước Thành và Đinh Văn Tiên đã lén lút lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Jupiter màu đen đỏ, BKS 92F1-009.78 trị giá 13.500.000 đồng do ông Thế dựng trước hiên nhà.

Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2018/HS-ST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo của bị cáo Đinh Văn Tiên thì thấy: Trong vụ án này, khi Thành rủ rê trộm cắp tài sản, mặc dù biết hành vi đó là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn đồng ý tham gia, thể hiện sự coi thường pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử phạt thỏa đáng, cần thiết cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng khi lượng hình, xử phạt bị cáo với mức án 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” là phù hợp, không nặng. Do đó, HĐXX không chấp nhận kháng cáo bị cáo Đinh Văn Tiên, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Văn Tiên, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015

Xử phạt: Đinh Văn Tiên 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, ngày 08/02/2018

2. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Đinh Văn Tiên phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

ơ

Cỡ chữ