vanban.org

Bản án 164/2018/HNGĐ-ST — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 35, 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d…

Căn cứ khoản 2 Điều 147, các Điều 157, 158, 165, 166, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, Phân chia tài sản chung của chị Lê Thu T và anh Nguyễn Thế H nhƣ sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "chia tài sản sau ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 35, 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 164/2018/HNGĐ-ST
Ngày 25-12-2018
V/v tranh chấp về chia tài sản
sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thi ̣ My Thanh̃

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn

2. Bà Trần Thị Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 610/2018/TLST - HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2018 về tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 180/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2018, giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thu T, sinh năm 1981; thƣờ ng trú : Tiểu khu 2, thị trấn T, huyê ̣n T, tỉnh T; tạm trú: Tổ 6A, khu phố T, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thế H , sinh năm 1974; thƣờ ng trú : Số 112/13, đƣờ ng Đ, khu phố T, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có mặt.

3. Ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Tổng công ty Thƣơng mại xuất nhập khẩu T – Công ty Cổ phần.

Đi ̣a chi: Sổ

́ 63, phƣờ ng H, thành phố T, tỉnh B.

Ngƣờ i đa ̣i diê ̣n hợp pháp : Ông Huỳnh Xuân P ; đi ̣a chi Sổ ́ 63, phƣờ ng H, thành phố T , tỉnh B; là ngƣời đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 06/8/2018). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.2. Công ty Cổ phần dịch vụ thƣơng mại và x ây dƣ̣ng địa ốc K; đi ̣a chi:

̉ Lô J, đƣờ ng N, phƣờ ng T, thị xã B, tỉnh B.

Ngƣờ i đa ̣i diê ̣n hợp pháp : Ông Trƣơng Anh H – Giám đốc pháp chế ; đi ̣a chỉ: 442/119/32, quốc lô ̣ 1, phƣờ ng A , quâ ̣n 12, thành phố Hồ Chí Minh ; là ngƣời đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 29/10/2018). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.3. Ông Lê Xuân T, sinh năm 1950; đi ̣a chỉ : Tiểu khu 2, thị trấn T , huyê ̣n T, tỉnh T. Có yêu cầu giải quyết vắng mă ̣t.

3.4. Bà Bùi Thị T, sinh năm 1955; đi ̣a chỉ: Tiểu khu 2, thị trấn T, huyê ̣n T, tỉnh T. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.5. Chị Nguyễn Thị H , sinh năm 1976; đi ̣a chỉ : Số 11, ngõ 470/50, đƣờ ng N, phƣờ ng T, quâ ̣n T, thành phố Hà Nội. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.6. Anh Nguyễn Thế H, sinh năm 1982; đi ̣a chi: Thôn X, xã H, huyê ̣̉

n T, tỉnh T. Có yêu cầu giải quyết vắng mă ̣t.

3.7. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1969; Đi ̣a chỉ: Bƣu điê ̣n huyê ̣n T , tỉnh T. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.8. Anh Phùng Văn M , sinh năm 1978; đi ̣a chỉ: Số 33/35, khu phố T , phƣờ ng D, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 05 tháng 6 năm 2018, lờ i khai trong quá trình giải quyết vụ á n, nguyên đơn chi ̣ Lê Thu T trình bày:

Chị Lê Thu T và anh Nguyễn Thế H kết hôn năm 2002 và đã ly hôn năm 2017 theo Quyết đi ̣nh công nhâ ̣n thuâ ̣n tinh ly hôn và sƣ̣ thỏa thuâ ̣n của các

̀

đƣơng sƣ̣ số 695/2017/QĐST-HNGĐ ngày 22/12/2017. Trong thờ i kỳ hôn nhân, anh H và chị T tạo lập đƣợc khối tài sản chung là : Quyền sƣ̉ du ̣ng đất và tài sản gắn liền trên đất to ̣a la ̣c lô F, Ô8 (thửa 1215), đƣờ ng N, khu đô thi ̣ thƣơng ma ̣i dịch vụ S, khu phố T, phƣờ ng D, thị xã D, tỉnh B, diê ̣n tich đo đa ̣c thƣ̣c tế 95m2

́ đƣợc Sở Tài nguyên và Môi trƣờ ng tinh B cẩ

́p giấy chƣ́ ng nhâ ̣n quyền sƣ̉ du ̣ng đất số CS16312 ngày 08/6/2018 cho anh Nguyễn Thế H ; 01 căn nhà và 13 căn phòng trọ nằm trên diê ̣n tich đất 166m2, thuô ̣c thƣ̉ a đất 985, tờ bản đồ số 11 theo

́ giấy chƣ́ ng nhâ ̣n quyền sƣ̉ du ̣ng đất số 368552 đƣợc UBND thi ̣ xa D cẫ

́p ngày 10/9/2009 cho anh Nguyễn Thế H. Các tài sản khác, vật dụng trong gia đình chị T không tranh chấp.

Về nguồn gốc lô đất F, Ô8 (thửa 1215) do anh H, chị T mua từ nguồn tiền trong thờ i kỳ hôn nhân, anh chị đa nhiều lẫ

̀n mua bán đất, trong đó lần cuối cùng năm 2014 anh chi ̣ bán phần đất ta ̣i khu phố T

, phƣờ ng D , thị xã D đƣợc 1.100.000.000 đồng và anh H dùng số tiền này để mua lại phần đất tại lô F, Ô8 (thửa 1215), đƣờ ng N, khu đô thi ̣ thƣơng ma ̣i di ̣ch vu ̣ S , khu phố T, phƣờ ng D, thị xã D , tỉnh B vớ i giá 1.045.000.000 đồng. Nguồn gốc căn nhà và 13 căn phòng trọ đƣợc xây dựng vào năm 2012, tiền xây dƣ̣ng khoảng 1.000.000.000 đồng, trong đó cha me ̣ chi ̣ T cho 350.000.000 đồng, cha me ̣ anh H cho 200.000.000 đồng, số còn la ̣i là tiền chung của anh H và chị T . Nay chi ̣ T yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản cho chi ̣ T 50% giá trị tài sản chung của anh H và chị T; chị T yêu cầu nhận lô đất T1, Ô8, giao cho anh H căn nhà và 13 căn phòng trọ và thanh toán giá trị chênh lệch. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị T đồng ý giao cho anh H toàn bộ tài sản tranh chấp là lô đất thửa 1215, căn nhà ở và 13 căn phòng trọ; chị T nhận số tiền 1.100.000.000 đồng.

Bị đơn anh Nguyễn Thế H trình bày: Thống nhất vớ i phần trinh bày của

̀ chị T đối phần tài sản là căn nhà và 13 căn phòng tro ̣ đƣợc hinh thành trong thờ i

̀ kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Đối với lô F, Ô 8, đƣờ ng N, khu đô thị thƣơng mại di ̣ch vu ̣ S, khu phố T, phƣờ ng D, thị xã D, tỉnh B là tài sản anh H mua cùng các anh chi ̣ em gồm: Nguyễn Thị H, Nguyễn Thế H, Nguyễn Thị T, nên đây không phải là tài sản chung của anh H và chị T tạo lập đƣợc trong thời kỳ hôn nhân. Vì vậy, anh H chỉ đồng ý chia cho chị T số tiền 600.000.000 đồng là một phần giá trị của căn nhà và 13 căn phòng tro ̣. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh H cũng đồng ý giao cho chị T số tiền 1.100.000.000 đồng; anh nhận toàn bộ tài sản đang tranh chấp. Các tài sản khác, vật dụng trong gia đình anh H thống nhất không tranh chấp.

Ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan Tổng công ty TM XNK T – Công ty Cổ phầ n do ông Huỳ nh Xuân P trình bày: Ngày 12/8/2015, công ty T có ký hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sƣ̉ du ̣ng đất vớ i anh Nguyễn Thế H

đối vớ i phần đất có diê ̣n tich 95m2, lô F, ô số 8, tờ bản đồ số 11AB to ̣a la ̣c Khu đô thi ̣

́ thƣơng ma ̣i di ̣ch vu ̣ S , khu phố T , phƣờ ng D, thị xã D , tỉnh B vớ i giá chuyển nhƣợng 940.500.000 đồng, anh H đa thanh toã

́n đƣợc 90% giá trị chuyển nhƣợng tƣơng đƣơng 846.460.000 đồng, số tiền còn la ̣i là 94.040.000 đồng anh H phải tiếp tục thanh toán . Nay chi ̣ T khở i kiê ̣n anh H yêu cầu chia tài sản là quyền sƣ̉ du ̣ng đất nói trên thi anh H phải tiếp tục thanh toán hết số tiền còn lại

̀ và tiền thuế trƣớ c ba ̣ theo quy đi ̣nh. Sau khi anh H hoàn tất nghĩa vụ thanh toán, công ty se bã ̀n giao giấy chƣ́ ng nhâ ̣n quyền sƣ̉ du ̣ng đất cho anh H và sự chứng kiến của chi ̣ T. Viê ̣c chi ̣ T khở i kiê ̣n anh H yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn phia công ty không có ý kiến về yêu cầu này.

́

- Ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần dịch vụ thương mại và xây dựng địa ốc K do ông Trương Anh H đại diê ̣n trinh bà y: Năm 2014,

̀ công ty K có hợp tác với công ty T để giới thiệu dự án và tìm kiếm khách hàng có nhu cầu giao dịch bất động sản đối với dự án tại Khu đô thi ̣ thƣơng ma ̣i di ̣ch vụ S, khu phố T, phƣờ ng D, thị xã D. Ngày 13/9/2014, công ty K lâ ̣p giấy biên nhâ ̣n co ̣c để anh H nhâ ̣n chuyển nhƣợng phần đất ta ̣i lô F, Ô8, đƣờ ng N, khu đô thị thƣơng mại dịch vụ S, khu phố T, phƣờ ng D, thị xã D, tỉnh B. Quá trình thực hiê ̣n hợp đồng, anh H đa thƣ̣̃

c hiê ̣n đúng nghia vu ̣̃

thanh toán theo thỏa thuâ ̣n vớ i công ty, sau đó công ty K chuyển giao số tiền la ̣i cho công ty T . Hiê ̣n ta ̣i, công ty K đa hoã

̀n tất mo ̣i nghia vu ̣̃

liên quan đến giao di ̣ch chuyển nhƣợng quyền sƣ̉ dụng đất nói trên nên không có ý kiến gì đối với hợp đồng đặt cọc giữa công ty K và anh H cũng nhƣ không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiê ̣n của chị Lê Thu T.

- Ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan ông Lê Xuân T và bà Bùi Thị T trình bày: Ông bà là cha me ̣ của chi ̣ L ê Thu T, trƣớ c đây năm 2004 ông bà có cho anh H, chị T số tiền 70.000.000 đồng để mua đất , hiê ̣n ta ̣i phần đất cũ anh chị đã bán đi và mua lại lô đất F, Ô8. Ông bà không có ý kiến gi đối vớ i yêu cầu

̀ khở i kiê ̣n của ch ị Lê Thu T cũng nhƣ không đòi lại số tiền 70.000.000 đồng đa ̃ cho anh chi ̣.

- Ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thế H, chị Nguyễn Thị H và chị Nguyễn Thi ̣ T trình bày: Các ông, bà thống nhất với phần trình bày của anh Nguyễn Thế H đối vớ i lô đất F, Ô 8, đƣờ ng N, khu đô thi ̣ thƣơng ma ̣i dịch vụ S, khu phố T, phƣờ ng D, thị xã D, tỉnh B có nguồn gốc do các anh chị em cùng mua chung và không đồng ý vớ i yêu cầu chia phần đất này của chi ̣ Lê Thu T.

- Ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan anh Phùng Văn M trình bày: Ngày 01/9/2018 anh M có thuê của chị T phần đất ta ̣i lô F, Ô 8, đƣờ ng N, khu đô thi ̣ thƣơng ma ̣i di ̣ch vu ̣ S , khu phố T , phƣờ ng D, thị xã D , tỉnh B, thờ i ha ̣n thuê 01 năm, giá thuê 4.000.000 đồng, mục đích thuê để làm kho chứa đồ . Anh và chị T có làm hợp đồng thuê viết tay. Sau khi anh M thuê đất đa đẫ ̀u tƣ thêm nhà tạm tr ị giá 40.000.000 đồng. Nay chi ̣ T tranh chấp vớ i anh H đối vớ i phần đất này anh M không có ý kiền gi, nếu có phát sinh tranh chấp vớ i chi ̣ T thì anh

̀

M sẽ yêu cầu giải quyết thành một vụ án khác.

Kết quả xem xét thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ và đi ̣nh giá tài sản thể hiện : Phần đất tranh chấp có diê ̣n tich

95m2 có giá trị 25.000.000 đồng/m2, thành tiền

́ 2.375.000.000 đồng; căn nhà có diê ̣n tich 82,5m2 x 4.800.000 đồng/m2 x 60% =

́

237.600.000 đồng và 13 căn phòng tro ̣ x 300,75m2 x 4.800.000 đồng/m2 x 60% = 866.160.000 đồng. Tổng giá tri ̣ nhà và đất tranh chấp 3.478.760.000 đồng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Về nội dung: Xét thấy tại phiên tòa các đƣơng sự tự thỏa thuận về việc chia tài sản chung, viê ̣c thỏa thuâ ̣n là tƣ̣ nguyê ̣n , đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Nhƣ̃ng ngƣờ i có quyền lợi, nghĩa vị liên quan Tổng công ty TM XNK T – Công ty Cổ phần (Công ty T); công ty Cổ phần dịch vụ thƣơng ma ̣i và xây dƣ̣ng địa ốc K (Công ty K), ông Lê Xuân T, bà Bùi Thị T, anh Nguyễn Thế H , chị Nguyễn Thi ̣ H, chị Nguyễn Thi ̣ T và anh Phùng Văn M có yêu cầu giải quyết vắng mă ̣t, căn cƣ́ vào Điều 228 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sƣ̣, Tòa án xét xử vắng mặt các đƣơng sự trên.

Đối với căn nhà có diê ̣n tich 82,5m2 và 13 căn phòng trọ có diện tích

́

300,75m2, tại phiên tòa chị T và anh H thống nhất là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của anh chị. Do đó, Tòa án xác định đây là tài sản chung của anh H và chị T.

Đối với phần đất có diện tích 95m2 tại lô F, Ô 8, đƣờ ng N, khu đô thi ̣ thƣơng ma ̣i di ̣ch vu ̣ S, khu phố T, phƣờ ng D, thị xã D, tỉnh B, trong quá trình tố tụng anh Nguyễn Thế H cho rằng đây là tài sản do anh và các anh chi ̣ em trong gia đinh cùng góp tiền mua chung . Quá trình tố tụng những ngƣời có quyền lợi

̀ nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị T , anh Nguyễn Thế H và chị Nguyễn Thi ̣ H cùng cho rằng phần đất này là tài sản chung của các anh, chị với anh Nguyễn Thế H nhƣng chị T không thừa nhận; anh H, chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Thế H và chị Nguyễn Thị H không xuất trinh đƣợc chứng cứ chứng minh có sự góp

̀

tiền mua chung lô đất này. Hợp đồng đặt cọc với Công ty K, hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất với Công ty T và tất cả các chứng từ chuyển tiền đặt cọc, thanh toán cho lô đất này đều đứng tên anh Nguyễn Thế H. Thời điểm thực hiện việc nhận chuyển nhƣợng lô đất này là trong thời kỳ hôn nhân của anh H và chị T. Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. ... 3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.”. Tại phiên tòa, anh H và chị T cùng thống nhất lô đất này là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của anh chị. Vì vậy, có căn cứ xác định lô đất này là tài sản chung của chị T và anh H.

Về việc phân chia tài sản: Tại phiên tòa, chị T và anh H thống nhất thỏa thuận: Chị T giao toàn bộ tài sản nhà, đất đang tranh chấp cho anh H và anh H thanh toán lại cho chị T số tiền 1.100.000.000 đồng. Xét thấy sự thỏa thuận của chị T và anh H là phù hợp với quy định của pháp luật.

Hợp đồng chuyển nhƣợng lô đất F, Ô 8 hiện tại anh H còn nợ Công ty T số tiền 94.000.000 đồng, anh H có trách nhiệm thanh toán hết số tiền còn lại để Công ty T bàn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh H sử dụng.

Đối vớ i hợp đồng thuê đất liên quan đến lô đất F, Ô 8 do chị Lê Thu T và anh Phùng Văn M ký kết vào ngày 01/9/2018. Lô đất này là tài sản chung của anh H và chị T nhƣng chị T thỏa thuận cho anh M thuê không đƣợc sự đồng ý của anh H, hợp đồng cho thuê trong thời gian Tòa án đang thụ lý giải quyết tranh chấp đối với lô đất này. Do đó, hợp đồng thuê đất giữa chị T và anh M không phát sinh hiệu lực. Nay phần đất này đƣợc chia cho anh H, vì vậy anh M có trách nhiệm tháo dỡ di dời toàn bộ tài sản trên đất để giao lại đất cho anh H quản lý, sử dụng. Ý kiến của anh M trong quá trình tố tụng xác định quan hệ hợp đồng thuê đất giữa chị T và anh M nếu có phát sinh tranh chấp se đƣợ̃

c giải quyết thành mô ̣t vu ̣ á n khác. Chị T cũng không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Do đó, Tòa án không giải quyết quyền lợi, nghĩa vụ của anh M, chị T liên quan đến hợp đồng thuê đất giữa hai bên. Trƣờng hợp anh M muốn tiếp tục thuê thì phải thƣơng lƣợng và ký kết hợp đồng thuê đất với anh H theo đúng quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia tài sản sau khi ly hôn của chị Lê Thu T và ý kiến đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An về việc giải quyết vụ án.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thu T và Anh Nguyễn Thế H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về chi phí tố tụng: Chị Lê Thu T và Anh Nguyễn Thế H mỗi ngƣời phải chịu ½ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 35, 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ khoản 2 Điều 147, các Điều 157, 158, 165, 166, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự,

1. Phân chia tài sản chung của chị Lê Thu T và anh Nguyễn Thế H nhƣ sau:

1.1. Chị Lê Thu T giao cho Anh Nguyễn Thế H quản lý, sử dụng và sở hữu các tài sản sau:

- Diê ̣n tich đất 95m2 thuộc thửa đất số 1215 (lô F, ô số 8), tờ bản đồ số

́ 11AB to ̣a la ̣c Khu đô thi ̣ thƣơng ma ̣i di ̣ch vu ̣ S, khu phố T, phƣờ ng D, thị xã D, tỉnh B theo giấy chƣ́ ng nhâ ̣n quyền sƣ̉ du ̣ng đất số CS 16312 ngày 08/6/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trƣờ ng tinh B cẩ

́p cho anh Nguyễn Thế H (có sơ đồ kèm theo).

- 01 căn nhà diện tích 82,5m2, kết cấu: Nhà ở loại 03 tầng (nền gạch men, tƣờng gạch xây tô, mái tôn) và 13 căn phòng tro ̣ di ện tích 300,75m2, kết cấu: Nhà 02 tầng (nền gạch men, tƣờng gạch xây tô, mái tôn) (trên diê ̣n tich đất

́ 166m2, thuô ̣c thƣ̉ a đất 985, tờ bản đồ số 11 theo giấy chƣ́ ng nhâ ̣n quyền sƣ̉ du ̣ng đất số 368552 do UBND thi ̣ xa D cẫ

́p ngày 10/9/2009 cho anh Nguyễn Thế H).

1.2. Anh Nguyễn Thế H thanh toán cho chị Lê Thu T số tiền 1.100.000.000 (một tỷ một trăm triệu đồng).

Kể từ ngày chị Lê Thu T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Nguyễn Thế H không thanh toán số tiền trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Anh Nguyễn Thế H chịu trách nhiệm thanh toán cho Tổng công ty thƣơng mại xuất nhập khẩu T – Công ty Cổ phần số tiền nhận chuyển nhƣợng còn lại (94.000.000 đồng) đối với lô đất 95m2 thuộc thửa đất số 1215 (lô F, ô số 8), tờ bản đồ số 11AB to ̣a la ̣c K hu đô thi ̣ thƣơng ma ̣i di ̣ch vu ̣ S , khu phố T , phƣờ ng D, thị xã D, tỉnh B.

3. Anh Phùng Văn M có trách nhiệm tháo dỡ toàn bộ nhà tạm (kết cấu: nhà tiền chế, nền đất, tƣờng gạch xây lửng + lƣới B40 + tôn, mái tôn, diện tích đã đầu tƣ trên thửa đất 1215 (lô F, ô số 8), tờ bản đồ số 11AB tọa lạc khu đô thi ̣ thƣơng ma ̣i di ̣ch vu ̣ S, khu phố T, phƣờ ng D, thị xã D, tỉnh B để giao lại đất cho anh Nguyễn Thế H. Quyền lợi, nghĩa vụ giữa chị Lê Thu T và anh Phùng Văn M liên quan đến hợp đồng thuê đất giữa hai bên đƣợc giải quyết bằng vụ án khác khi đƣơng sự có yêu cầu.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Thế H phải chịu 79.575.200 (Bảy mƣơi chín triệu năm trăm bảy mƣơi lăm nghìn hai trăm ) đồng. Chị Lê Thu T phải chịu 45.000.000 (Bốn mƣơi lăm triê ̣u ) đồng, đƣợc khấu trừ 4.050.000 (bốn triệu không trăm năm mƣơi nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019581 ngày 12/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D; chị Lê Thu T còn phải nộp 40.950.000 (bốn mƣơi triệu chín trăm năm mƣơi nghìn) đồng.

5. Chi phí tố tụng (xem xét thẩm định tại chỗ và định giá): Chị Lê Thu T phải chịu 1.765.000 (một triệu bảy trăm sáu mƣơi lăm nghìn) đồng đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp. Anh Nguyễn Thế H phải nộp 1.765.000 (một triệu bảy trăm sáu mƣơi lăm nghìn) đồng để thanh toán lại cho chị Lê Thu T.

6. Nguyên đơn, bị đơn có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; ngƣờ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ