- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Viết H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 163/2023/HS-ST Ngày 07-6-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Uyên.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hƣơng Giang, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 141/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 181/2023/QĐXX-HS ngày 26 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:
Lê Viết H, sinh năm 1989 tại tỉnh H; thƣờng trú: Thôn Nhuyễn Phú L, xã L, huyện C, tỉnh H; nghề nghiệp: Xây dựng; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Viết T, sinh năm 1964 và bà Vũ Thị T, sinh năm 1965; bị cáo có 04 chị, em ruột, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1999; vợ tên Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1992; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; bị bắt truy nã và tạm giam từ ngày 07/02/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Đình H, sinh năm 2001; thƣờng trú: Thôn Gò Sạn, xã P, huyện B, tỉnh T; chỗ ở hiện nay: Số 61A/3 khu phố H 1, phƣờng A, thành phố A, tỉnh D. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Vũ Văn C, sinh năm 1977; địa chỉ: Số 39/20/8 đƣờng 10, tổ 14, khu phố 3, phƣờng X, thành phố Đ, Thành phố M. Có đơn xin vắng mặt.
2. Anh Vũ Dục M, sinh năm 1963; địa chỉ: Số 12, đƣờng ĐT743, khu phố H2, phƣờng A, thành phố A, tỉnh D. Có đơn xin vắng mặt.
3. Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn Nhuyễn Phú L, xã L, huyện C, tỉnh H; chỗ ở: Số 149A/5 khu phố H 1, phƣờng A, thành phố A, tỉnh D. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Lê Viết H và anh Nguyễn Đình H là bạn bè làm chung, H là thợ hồ còn H1 là phụ hồ cho H và cùng tạm trú tại khu phố Nội Hóa 1, phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Khoảng 21 giờ, ngày 16/4/2022, H đến phòng trọ của anh H tại địa chỉ: Số 61A/3 khu phố Nội Hóa 1, phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng mƣợn anh H 01 máy Laptop hiệu Dell Intel Core I3, màu đen để sử dụng, anh H đồng ý cho H mƣợn. Đến khoảng 17 giờ, ngày 17/4/2022, do cần tiền mua vật tƣ xây dựng cho công trình nên H mang Laptop mƣợn của anh H đến tiệm cầm đồ “Thanh Tâm 2”, địa chỉ: số 448 Quốc lộ 1K, khu phố Nội Hóa 1, phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng gặp anh Vũ Văn C là chủ tiệm cầm đồ “Thanh Tâm 2” thỏa thuận với anh C cầm máy tính xách tay hiệu Dell Intel Core I3 với số tiền 4.000.000 đồng, thời hạn cầm từ ngày 17/4/2022 đến ngày 17/5/2022. Tuy nhiên, số tiền này H tiêu xài cá nhân hết.
Đến khoảng 09 giờ, ngày 18/4/2022, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, màu xanh bạc đen, biển số: 85H1-108.65, số khung: 3719LY104315, số máy: KC34E1170323 của anh H, chở anh H từ công trình xây dựng ở Phƣờng 11, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh về phòng trọ anh H ở phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An, Bình Dƣơng. Về đến nhà trọ anh H, H hỏi anh H mƣợn chiếc xe mô tô biển số 85H1-108.65 của anh H để đi làm, anh H đồng ý. Đến ngày 19/4/2022, do không có giấy đăng ký xe nên H sợ đi đƣờng bị Công an phạt nên H hỏi anh H cho mƣợn giấy tờ xe. Do giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô Winner X, biển số: 85H1-108,65 anh H hiện đang cầm tại tiệm cầm đồ “Minh Thủy”, địa chỉ: Số 12 đƣờng ĐT743A, khu phố Nội Hóa 2, phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, với số tiền 1.500.000 đồng. Vì vậy, H nói anh H đƣa biên nhận cầm đồ để H đi chuộc lại giấy tờ xe để đi đƣờng cho thuận tiện. Nghe H nói vậy anh H đồng ý. Đến ngày 20/4/2022, H nảy sinh ý định đem xe mô tô của anh H đem đi cầm cố. H đem xe mô tô biển số: 85H1-108.65 cùng giấy biên nhận cầm giấy tờ xe trƣớc đó đi đến tiệm cầm đồ “Minh Thủy” gặp chủ tiệm là anh Vũ Dục M. H đƣa biên nhận cầm cố giấy tờ của anh H trƣớc đó cho anh M và nói cầm cố chiếc xe mô tô, biển số: 85H1-108.65 thì anh M đồng ý cầm xe với giá 13.500.000 đồng. Anh M thu lại giấy cầm đồ cũ và ghi lại giấy cầm đồ mới là 15.000.000 đồng (trong đó giấy cầm đồ cũ cho giấy tờ xe là 1.500.000 đồng và 13.500.000 đồng tiền cầm xe), thời hạn cầm từ ngày 20/4/2022 đến ngày 20/5/2022. Sau khi có đƣợc tiền, H không chuộc máy tính xách tay trả lại cho anh H mà H tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.
Ngày 27/4/2022, anh H điện thoại cho H yêu cầu trả lại xe môtô biển số 85H1-108.65 và Laptop thì H nói xe bị Công an bắt nên để đóng phạt xong lấy xe về trả. Ngày 15/5/2022, anh H tiếp tục đòi H trả xe và Laptop, H nói xe bị bắt chƣa lấy về còn Laptop thì nói dối là đã bị hƣ đang để ở tiệm sửa. Sau đó, H viết giấy cam kết đến ngày 20/5/2022 sẽ lấy xe về trả cho anh H. Đến ngày 23/5/2022, anh H tiếp tục đòi H trả xe và Laptop thì H thừa nhận xe mang đi cầm, còn Laptop thì nói bị hƣ bán phế liệu đƣợc 120.000 đồng và viết thêm 01 tờ cam kết đến ngày 30/5/2022 trả lại toàn bộ tài sản cho anh H. Đến ngày 30/5/2022, không thấy H trả xe và Laptop nên anh H đến Công an phƣờng Bình An trình báo.
Vật chứng tạm giữ:
+ 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại Winner X, màu xanh bạc đen biển số 85H1 – 108.65, số khung: 3719LY104315, số máy: KC34E1170323;
+ 01 Laptop (máy vi tính xách tay) hiệu Dell Intel Core I3, màu đen;
+ 01 CMND tên Nguyễn Đình H;
+ 01 giấy phép lái xe hạng A1 tên Nguyễn Đình H;
+ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại Winner X, màu xanh bạc đen biển số 85H1 – 108.65.
+ 03 giấy biên nhận cầm cố thế chấp tài sản.
Theo kết luận định giá tài sản số 114 ngày 29/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Dĩ An: máy tính Dell Intel Core I3, màu đen có trị giá 5.500.000 đồng; xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại Winner X, màu xanh bạc đen, số khung: 3719LY104315, số máy: KC34E1170323, biển số 85H1 108.65 có trị giá 28.000.000 đồng. Tổng tài sản bị chiếm đoạt là 33.500.000 đồng.
Quá trình xác minh Lê Viết H bỏ trốn khỏi nơi thƣờng trú và nơi tạm trú. Ngày 03/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An ra Quyết định khởi tố vụ án “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Ngày 23/01/2023 khởi tố bị can đối với Lê Viết H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Ngày 03/02/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An ra Quyết định truy nã đối với Lê Viết H.
Ngày 07/02/2023, Lê Viết H bị bắt theo quyết định truy nã số 09 ngày 03/02/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An.
Cáo trạng số: 137/CT-VKS ngày 26 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Lê Viết H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 175; Điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Lê Viết H từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
- Xử lý vật chứng:
+ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả cho anh Nguyễn Đình H 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại Winner X, màu xanh bạc đen, số khung: 3719LY104315, số máy: KC34E1170323, biển số 85H1 – 108.65; 01 Laptop hiệu Dell Intel Core I3, màu đen; 01 CMND tên Nguyễn Đình H; 01 giấy phép lái xe hạng A1 tên Nguyễn Đình H; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại Winner X, màu xanh bạc đen biển số 85H1 – 108.65.
- Về trách nhiệm dân sự:
+ Bị hại anh Nguyễn Đình H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thƣờng nên không xem xét.
+ Ngày 26/3/2023, chị Nguyễn Thị Thu H là vợ của Lê Viết H đã bồi thƣờng cho anh Vũ Dục M là chủ tiệm cầm đồ “Minh Thủy” số tiền 2.000.000 đồng. Anh Vũ Dục M yêu cầu bị cáo H bồi thƣờng số tiền 13.000.000 đồng còn lại. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thƣờng nên ghi nhận.
+ Anh Vũ Văn C là chủ tiệm cầm đồ “Thanh Tâm 2” yêu cầu bị cáo H bồi thƣờng số tiền 4.000.000 đồng.
Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự đồng thời bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngƣời làm chứng và các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 21 giờ, ngày 16/4/2022, Lê Viết H mƣợn của anh Nguyễn Đình H 01 máy vi tính xách tay (Laptop) hiệu Dell Intel Core I3, màu đen, trị giá 5.500.000 đồng để sử dụng. Đến khoảng 17 giờ, ngày 17/4/2022, H mang máy vi tính xách tay nói trên của anh H đến tiệm cầm đồ “Thanh Tâm 2” gặp anh Vũ Văn C, thỏa thuận với anh C cầm 01 máy tính xách tay hiệu Dell Intel Core I3 với số tiền 4.000.000 đồng. Số tiền này H tiêu xài hết. Đến khoảng 09 giờ, ngày 18/4/2022, Lê Viết H mƣợn xe mô tô, nhãn hiệu Honda Winner X, màu xanh bạc đen, biển số 85H1-108.65, trị giá 28.000.000 đồng, của anh H để đi làm. Đến ngày 20/4/2022 do không có tiền tiêu xài, H đem xe mô tô biển số: 85H1-108.65 mƣợn của anh H đi cầm cố ở tiệm cầm đồ “Minh Thủy” đƣợc 13.500.000 đồng, thời hạn cầm từ ngày 20/4/2022 đến ngày 20/5/2022. Sau khi có đƣợc tiền, H không chuộc máy tính xách tay trả lại cho anh H mà H tiêu xài cá nhân hết số tiền trên. Tổng tài sản bị chiếm đoạt là 33.500.000 đồng.
Nhƣ vậy, hành vi trên đây của bị cáo Lê Viết H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Do đó, Cáo trạng số: 137/CT-VKS ngày 26 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Lê Viết H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định Điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền tài sản của bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên quy định tại Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, đã tác động cho gia đình bồi thƣờng khắc phục một phần hậu quả cho.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chƣa có tiền án tiền sự và là ngƣời lao động.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền tài sản của ngƣời bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thƣờng cho anh Vũ Dục M số tiền 13.000.000 đồng, anh Vũ Văn C số tiền 4.000.000 đồng nên ghi nhận.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, về trách nhiệm dân sự là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo pH1 nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Viết H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 175; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Viết H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/02/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các Điều 468, 584, 585 và 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Buộc bị cáo Lê Viết H bồi thƣờng cho anh Vũ Dục M số tiền 13.000.000 đồng, anh Vũ Văn C số tiền 4.000.000 đồng.
Kể từ ngày ngƣời đƣợc yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ngƣời pH1 thi hành án chậm thi hành án thì pH1 chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lê Viết H pH1 nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 850.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.
Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời pH1 thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo, bị hại, ngƣời có QLNVLQ đến vụ án (03); - VKSND thành phố Dĩ An (01); - VKSND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Công an thành phố Dĩ An (01); - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01); - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - Phòng PV06 CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - UBND nơi cƣ trú của bị cáo (01); - Lƣu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Nam |