vanban.org

Bản án 163/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 07/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng : Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,15 (không phẩy mười lăm) gam chất ma tuý được cho vào túi nilon đựng mẫu ghi ký hiệu bên ngoài là: M1, M2; 02 (hai) mảnh nilon; 02 (hai) mảnh giấy … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Mạnh Đạt - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 163 /2023/HS-ST
Ngày 07/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Đức

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Hoà

2. Ông Hoàng Văn Ngân

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nông Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai đưa ra xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 168/2023/HSST ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156 /2023/QĐXXST - HS ngày 27/11/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mai Mạnh Đ - Giới tính: Nam, Tên gọi khác: Không; Sinh ngày:14/10/1976, tại thành phố Lào C, tỉnh Lào C; Nơi cư trú: Thôn Công Tr 5, xã Cam Đ, thành phố Lào C, tỉnh Lào C.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Bố đẻ: Mai Danh Thụ, sinh năm 1942 (đã chết); Mẹ đẻ: Phạm Thị Luyến, sinh năm 1943. Trú tại Thôn Công Trường 5, xã Cam Đường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Vợ là Lưu Thị Hoa; sinh năm 1983; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2016. Hiện ở cùng mẹ tại Thôn Công Trường 5, xã Cam Đường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Gia đình bị cáo có 7 anh, em, bị cáo là con thứ năm.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Bị cáo là người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy

Bị cáo Mai Mạnh Đạt bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 8/9/2023, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 08/9/2023, Mai Mạnh Đ điều khiển xe mô tô của Đ biển kiểm soát 24B2-261.82 đi từ nơi ở đến trường Tiểu học xã Cam Đường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai để đón con. Khi đi qua khu vực vật liệu thuộc tổ 6, phường Pom Hán, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Mai Mạnh Đ nhìn thấy một người phụ nữ đang đứng ở ven đường nên nảy sinh ý định mua ma tuý về sử dụng. Mai Mạnh Đ hỏi “có hàng không” người phụ nữ trả lời “hàng gì”, Mai Mạnh Đ nói “ma tuý”, người phụ nữ trả lời “có”. Mai Mạnh Đ nói “bán cho hai con” rồi đưa 150.000 đồng cho người phụ nữ. Người phụ nữ nhận tiền rồi đưa cho Mai Mạnh Đ 02 (hai) gói giấy. Mai Mạnh Đ nhận và cầm 02 (hai) gói ma tuý cất giấu trong túi quần đang mặc. Sau khi mua được ma tuý, Mai Mạnh Đ điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng ma tuý. Hồi 10 giờ 40 phút cùng ngày, Mai Mạnh Đ đang dừng đỗ xe ở ven đường liên thôn thuộc khu vực tổ 16, phường Pom Hán, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Lào Cai kiểm tra, bắt giữ. Mai Mạnh Đ tự lấy giao nộp cho tổ công tác 02 (hai) gói giấy màu trắng, bên trong mỗi gói giấy màu trắng này đều chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục. Mai Mạnh Đ khai nhận đây là các gói ma túy Heroine của Đ mua được, mục đích để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra còn tạm giữ của Mai Mạnh Đ 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 24B2-261.82, nhãn hiệu: HONDA, số loại: AIRBLADE, số máy: JF63E1293529, số khung: 6300FZ867856; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 089225 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, số Sêri 1: 355766107340140, số Sêri 2: 355766107840149 và 01 (một) sim điện thoại số thuê bao: 0974970383.

Tại kết luận giám định số 311/GĐMT, ngày 11/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận:

Mẫu M1: 0,10 (không phẩy mười) gam các cục chất bột khô màu trắng gửi giám định là loại chất ma tuý Heroine (Hêrôin).

Mẫu M1: 0,11 (không phẩy mười một) gam các cục chất bột khô màu trắng gửi giám định là loại chất ma tuý Heroine (Hêrôin).

Tại bản cáo trạng số 169/CT-VKS ngày 17/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Mai Mạnh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mai Mạnh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mai Mạnh Đ từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,15 gam chất ma tuý được cho vào túi nilon đựng mẫu ghi ký hiệu bên ngoài là: M1, M2; 02 (hai) mảnh nilon; 02 (hai) mảnh giấy và bì niêm phong ban đầu gửi giám định cùng toàn bộ niêm phong túi gói cũ được tái niêm phong theo quy định; Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 24B2-261.82, nhãn hiệu: HONDA, số loại: AIRBLADE, số máy: JF63E1293529, số khung: 6300FZ867856; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 089225; Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, số Sêri 1: 355766107340140, số Sêri 2: 355766107840149 và 01 (một) sim điện thoại số thuê bao: 0974970383 đã tạm giữ của Bùi Mạnh Đạt cần phải tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên ngày 8/9/2023, bị cáo đã tàng trữ 0,21 (không phẩy hai mươi mốt) gam chất ma tuý Heroine, mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an tỉnh Lào Cai phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần phải xét xử mức án thật nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có mẹ đẻ là bà Phạm Thị Luyến được tặng huy chương vì sự nghiệp phát triển công nghiệp Việt Nam. Vì vậy, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên toà, bị cáo là người lao động tự do, không có việc làm ổn định, không có tài sản và thu nhập gì. Vì vậy không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án:

Tịch thu tiêu hủy 0,15 (không phẩy mười lăm) gam chất ma tuý được cho vào túi nilon đựng mẫu ghi ký hiệu bên ngoài là: M1, M2; 02 (hai) mảnh nilon; 02 (hai) mảnh giấy và bì niêm phong ban đầu gửi giám định cùng toàn bộ niêm phong túi gói cũ được tái niêm phong theo quy định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai; Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 24B2-261.82, nhãn hiệu: HONDA, số loại: AIRBLADE, số máy: JF63E1293529, số khung: 6300FZ867856; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 089225; Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, số Sêri 1: 355766107340140, số Sêri 2: 355766107840149 và 01 (một) sim điện thoại số thuê bao: 0974970383 là tài sản của bị cáo không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo tuy nhiên bị cáo còn phải thi hành khoản tiền án phí nên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Những vấn đề liên quan trong vụ án: Đối với người phụ nữ đã bán ma tuý cho bị cáo ngày 8/9/2023. Do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ, ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu nào khác để chứng minh nên không đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này là đúng quy định của pháp luật.

Những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội của Kiểm sát viên, bị cáo đều phù hợp và được Hội đồng xét xử chấp thuận.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Mai Mạnh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Mai Mạnh Đạt 01(một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/9/2023.

2.Về xử lý vật chứng : Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,15 (không phẩy mười lăm) gam chất ma tuý được cho vào túi nilon đựng mẫu ghi ký hiệu bên ngoài là: M1, M2; 02 (hai) mảnh nilon; 02 (hai) mảnh giấy và bì niêm phong ban đầu gửi giám định cùng toàn bộ niêm phong túi gói cũ được tái niêm phong theo quy định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai;

Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 24B2-261.82, nhãn hiệu: AIRBLADE, màu sơn: Đen-Đỏ, số máy: JF63E1293529, số khung: 6300FZ867856. Xe đã qua sử dụng; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 089225.

Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, số Sêri 1: 355766107340140, số Sêri 2: 355766107840149, kèm 01 (một) sim điện thoại số thuê bao: 0974970383 đã qua sử dụng để đảm bảo công tác thi hành án. (Biên bản vật chứng 06/12/2023)

3. VÒ ¸n phÝ: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Mai Mạnh phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo bản án: Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ