vanban.org

Bản án 163/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Nguyễn Tường V.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Tường V được ly hôn với anh Gịp Đức C. Quan hệ hôn nhân chấm dứt và Giấy chứng nhận kết hôn số 90/2008, ngày 03/11/2008 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai cấp không còn giá trị pháp lý, kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Nguyễn Tường V.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29-9-2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu

2. Ông Hồ Phi Công

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Châu Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 398/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 138/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Tường V, sinh năm: 1990

Địa chỉ: ấp B, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Gịp Đức C, sinh năm: 1984

Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Tường V trình bày: Chị và anh Gịp Đức C tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2008 tại Ủy ban nhân xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Trước đó cả hai chưa ai có vợ có chồng.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không có tiếng nói chung dẫn đến không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay, từ đó vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, không chăm sóc nhau, cuộc sống của ai người đó lo. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh ư ơ ng"Gịp Đức C.

Về con chung: Anh chị có với nhau 03 con chung tên Gịp Nguyễn Chúc P, sinh ngày: 19/8/2010; Gịp Nguyễn Bảo L, sinh ngày: 14/01/2014; Gịp Nguyễn Minh T, sinh ngày: 29/6/2018. Khi ly hôn, chị Nguyễn Tường V yêu cầu được nuôi các con chung và không yêu cầu anh Gịp Đức C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Tường V trình bày không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Chị Nguyễn Tường V trình bày không có nợ chung.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Gịp Đức C được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án nhưng anh Gịp Đức C vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án không thu thập được ý kiến của anh ư ơ ng"Gịp Đức C đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Tường V.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho cho chị Nguyễn Tường V được ly hôn với anh Gịp Đức C.

Về con chung: Anh chị có 03 con chung tên Gịp Nguyễn Chúc P, sinh ngày: 19/8/2010; Gịp Nguyễn Bảo L, sinh ngày: 14/01/2014; Gịp Nguyễn Minh T, sinh ngày: 29/6/2018. Hiện cháu P, cháu L và cháu T đang do chị V trực tiếp nuôi dưỡng và chị V yêu cầu được nuôi các con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu P, cháu L, cháu T cho chị V nuôi dưỡng. Chị V không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Tường V trình bày không giải quyết; Về nợ chung: không có. Anh Gịp Đức C không có lời khai về tài sản chung và nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan pháp luật và thẩm quyền của Tòa án: Chị Nguyễn Tường V khởi kiện anh Gịp Đức C về việc Ly hôn và yêu cầu được nuôi con chung. Do đó, quan hệ pháp luật là “Ly hôn tranh chấp nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn là anh Gịp Đức C có nơi cư trú tại ấp T, xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tư cách tham gia tố tụng: Chị Nguyễn Tường V khởi kiện anh Gịp Đức C, nên xác định chị V là nguyên đơn, anh C là bị đơn theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Tường V có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; anh Gịp Đức C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Tường V theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và xét xử vắng mặt anh Gịp Đức C theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh C tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu của nguyên đơn, nhận thấy: chị Nguyễn Tường V trình bày quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không có tiếng nói chung dẫn đến không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay, từ đó vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, không chăm sóc nhau, cuộc sống của ai người đó lo nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Gịp Đức C.

Tại Biên bản xác minh ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại ấp C (bút lục số 28) thể hiện anh Gịp Đức C hiện nay đang cư trú và sinh sống tại địa phương; về quan hệ hôn nhân hiện nay chị Nguyễn Tường V và anh Gịp Đức C không còn chung sống với nhau. Quá trình làm việc, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Gịp Đức C đến tham gia các buổi làm việc, hòa giải, xét xử nhưng anh Gịp Đức C vắng mặt không có lý do chính đáng. Thấy rằng, chị Nguyễn Tường V cương quyết xin ly hôn nhưng anh Gịp Đức C không có nỗ lực thật sự để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng mặc dù Tòa án đã cho thời gian để anh Gịp Đức C và chị Nguyễn Tường V đoàn tụ vợ chồng nhưng anh Gịp Đức C không đến Tòa án để làm việc nên không có kết quả. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị Nguyễn Tường V và anh Gịp Đức C mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Tường V là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Anh chị có 03 con chung là Gịp Nguyễn Chúc P, sinh ngày: 19/8/2010; Gịp Nguyễn Bảo L, sinh ngày: 14/01/2014; Gịp Nguyễn Minh T, sinh ngày: 29/6/2018. Chị Nguyễn Tường V yêu cầu được nuôi con chung. Xét thấy hiện nay cháu P, cháu L và cháu T đang do chị V trực tiếp nuôi dưỡng từ khi vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay và cháu P, cháu L trình bày nguyện vọng muốn được ở với mẹ, cháu T còn nhỏ nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ nên tiếp tục giao cháu P, cháu L, cháu T cho chị V nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Tường V tạm thời không yêu cầu anh Gịp Đức C cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Tường V không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Gịp Đức C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc nên không có lời khai do vậy không giải quyết.

Về nợ chung: Chị Nguyễn Tường V trình bày không có. Anh Gịp Đức C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc nên không có lời khai do vậy không giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Tường V phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36, khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban ư ờ ng"Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Nguyễn Tường V.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Tường V được ly hôn với anh Gịp Đức C.

Quan hệ hôn nhân chấm dứt và Giấy chứng nhận kết hôn số 90/2008, ngày 03/11/2008 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai cấp không còn giá trị pháp lý, kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Gịp Nguyễn Chúc P, sinh ngày: 19/8/2010; cháu Gịp Nguyễn Bảo L, sinh ngày: 14/01/2014; cháu Gịp Nguyễn Minh T1, sinh ngày: 29/6/2018 cho chị Nguyễn Tường V trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Tường V tạm thời không yêu cầu anh Gịp Đức C cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.

Anh Gịp Đức C được quyền thăm nom con chung nhưng không được gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Nguyễn Tường V. Khi cần thiết, chị Nguyễn Tường V và anh Gịp Đức C được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật bảo vệ.

3. Về tài sản chung: Không giải quyết.

4. Về nợ chung: Không giải quyết

5. Về án phí: Chị Nguyễn Tương V1 phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Tường V đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007671 ngày 18 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc. Chị Nguyễn Tường V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Tường V, anh Gịp Đức C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Cỡ chữ