- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Cẩm T - Trần Văn Ki D"
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 163/2023/HN- ST Ngày 21/12/2023 V/v: “Xin ly hôn ” |
NHÂN DANH
N ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
T A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH B N T E
Với thành ph n H i đ ng x t x s th m g m có:
- Thẩm ph n - h t a phiên t a: Ông Trần Thanh Phong
- c Hội thẩm nh n d n: Ông Nguyễn Văn Hết.
Bà Mai Thị Nhặc.
- Thư ký phiên t a: Bà Nguyễn Thị Thư Linh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
- Kiểm sát viên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân Hoàng.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 437/2023/TLST-HN ngày 30 tháng 10 năm 2023 về việc “xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 487/2023/QĐXXST-HN ngày 05/12/2023 và quyết định hoãn phiên toà số 512/2023/QĐST-HN ngày 13/12/2023 giữa:
* Nguyên đ n: Lê Thị Cẩm T, sinh 1996 (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
Trú tại: Ấp Phú Nh, thị trấn Châu Th, huyện Châu Th, tỉnh Bến Tre.
* Bị đ n: Trần Văn Ki D, sinh 1989 (vắng mặt không lý do)
Trú tại: Ấp An Thới 1, xã Phước H, huyện Mỏ Cày N, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản khai nguyên đơn chị T trình bày:
Vào năm 2018 tôi và anh Ki D đã tiến tới hôn nhân, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Châu Thành. Sau khi cưới nhau vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp, chúng tôi sống ly thân cách nay khoảng 04 tháng. Nay tôi xin ly hôn với anh Ki D.
Quá trình sống chung vợ chồng có 03 con chung tên Trần Hoàng Lâm, sinh ngày 05/6/2015, Trần Hoàng Long, sinh ngày 23/11/2018, Trần Hoàng Phúc, sinh ngày 27/02/2020, các con hiện Dng sống cùng tôi. Nay tôi xin nuôi cả 03 con, yêu cầu anh Ki D cấp dưỡng nuôi con mỗi bé mỗi tháng 900.000 đồng đến khi các con tròn 18 tuổi.
Tài sản chung: Chúng tôi tự thoả thuận giải quyết, không yêu cầu giải quyết.
Nợ chung: Không có.
Bị đơn Trần Văn Ki D vắng mặt trong các giai đoạn tố tụng của Tòa án và cũng không có bất cứ lời trình bày nào đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm cho rằng các giai đoạn tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện nhiệm vụ tuân thủ đúng các quy định pháp luật, người tham gia tố tụng bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Toà án nhưng không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên đề nghị tiếp tục xét xử vụ án. Về nội dung vụ án đề nghị Áp dụng điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
Về con chung: Đề nghị giao cả 03 con cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc anh Ki D cấp dưỡng nuôi con mỗi bé mỗi tháng 9.00.000 đồng đến khi các con tròn 18 tuổi.
Tài sản chung: Tự thoả thuận, nên không xem xét.
Nợ chung: Không có, nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:
Sau khi nghiên cứu c c tài liệu có trong hồ sơ vụ n được thẩm tra tại phiên t a, căn cứ vào lời trình bày c a c c đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy:
* Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1] Về quyền khởi kiện: Chị T cho rằng quá trình sống chung giữa vợ chồng không còn hạnh phúc nên muốn ly hôn, do đó chị khởi kiện. Căn cứ điều 51 luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 điều 68, điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự thì chị T có quyền khởi kiện.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Đối với yêu cầu của chị T là tranh chấp về việc ly hôn. Căn cứ khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và nơi cư trú của bị đơn thuộc xã Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày Nam. Căn cứ điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam thụ lý giải quyết là phù hợp pháp luật.
* Về n i dung giải quyết vụ án:
[1] Chị T, anh Ki D kết hôn trên cơ sở tự tìm hiểu quen biết và tự nguyện tiến đến hôn nhân, anh, chị có đăng ký kết hôn tại UBND cấp có thẩm quyền, do đó hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn anh chị sống có hạnh phúc, lẽ ra anh, chị phải biết gìn giữ, nhưng từ những mâu thuẫn trong đời sống thường ngày mà anh, chị không tìm cách để khắc phục, sống ly thân cách bỏ mặt nhau. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết chị T vẫn giữ nguyên quan điểm ly hôn, còn anh Ki D đã được triệu tập rất nhiều lần để Tòa án tiến hành tổ chức hòa giải tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ nhưng anh vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy anh Ki D không có thiện chí muốn trở về chung sống với chị T. Xét mâu thuẫn vợ chồng anh chị là có thật, nếu để anh chị tiếp tục chung sống thì mục đích hôn nhân sẽ không đạt được, do đó chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp.
[2] Về con chung: vợ chồng anh chị có 03 con chung tên Trần Hoàng Lâm, sinh ngày 05/6/2015, Trần Hoàng Long, sinh ngày 23/11/2018, Trần Hoàng Phúc, sinh ngày 27/02/2020, từ lúc vợ chồng ly thân thì các con sống cùng chị T, các bé đã thích nghi với việc chăm sóc giáo dục của chị T, nên tiếp tục giao các con cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Đối với mức cấp dưỡng chị T yêu cầu mỗi tháng cấp 900.000 đồng cho các con. Thấy rằng mức cấp dưỡng chị T yêu cầu là phù hợp pháp luật, nên được chấp nhận.
[3] Tài sản chung: Tự thoả thuận, nên không xem xét.
[4] Nợ chung: Không có nên không xem xét.
[5] Chị Tiên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật. Anh Ki D phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.
[6] Quan điểm của kiểm sát viên phù hợp quan điểm của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì c c lẽ trên,
QUY T ĐỊNH:
Áp dụng điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng khoản 5, khoản 6 điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Cẩm T. Chị Lê Thị Cẩm T được ly hôn với anh Trần Văn Ki D.
Về con chung: Chị T trực tiếp nuôi các con gồm:Trần Hoàng Lâm, sinh ngày 05/6/2015, Trần Hoàng Long, sinh ngày 23/11/2018, Trần Hoàng Phúc, sinh ngày 27/02/2020. Buộc anh Ki D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi bé mỗi tháng 900.000 đồng đến khi các con tròn 18 tuổi, thời gian bắt đầu cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/12/2023)
Sau khi ly hôn, cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con chung, người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của con chưa thành niên, khi có căn cứ một hoặc cả hai bên chị T, anh Ki D được quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Tự thoả thuận, nên không xem xét.
Nợ chung: Không có, nên không xem xét.
Án phí: Chị T chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002213 ngày 25/10/2023. Anh Ki D chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
N i nhận:
| - TAND Bến Tre (1b); - VKSND huyện Mỏ Cày Nam (2b); - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Nam(1b); - UBND TT Châu Thành, BTre (1b) - Những người tham gia tố tụng (2b); - Lưu HS, VP, THA (4b). | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký |