- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 163/2022/HS-ST Ngày 28 – 12– 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Âu Văn Hồ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thanh
2. Ông Nguyễn Hồng Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 150/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2022/HSST-QĐ ngày 13 ngày 12 tháng 2022 đối với bị cáo:
Hoàng Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 16/7/2004 tại Cao Bằng; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: xóm Pác Loan, xã Trung Phúc, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, Đ thể: Không; Con ông: Hoàng Văn H, sinh năm 1975; Con bà: Hoàng Thị N, sinh năm 1977; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/10/2022 đến ngày 11/10/2022 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.
- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn Đ: Bà Nguyễn Thị Dung. Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp lý Nhà nước tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).
- Người chứng kiến:
1. Ông Trần Phi H, sinh năm 1962; Địa chỉ: Tổ dân phố 4, phường Ba Hàng, thành phố Phổ Yên, Thái Nguyên. (Vắng mặt).
2. Anh Phạm Văn T, sinh năm 1991; Địa chỉ: Tổ dân phố Thu Lỗ, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ ngày 02/10/2022, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma tuý Công an thành phố Phổ Yên phối hợp với Công an phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, thì phát hiện đối tượng Hoàng Văn Đ có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, Đ đã tự giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon đang cầm trong tay phải, bên trong có chứa chất rắn màu trắng đục. Theo Đ khai nhận số chất rắn trên là ma tuý loại Heroine của Đ mua về để sử dụng cho bản thân. Căn cứ nội dung trên, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hoàng Văn Đ, tạm giữ và niêm phong số chất rắn màu trắng đục trên (ký hiệu A), sau đó đưa đối tượng cùng vật chứng về trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên để giải quyết.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân khối lượng toàn bộ số chất rắn màu trắng đục thu giữ của Hoàng Văn Đ được 0,339 gam, lấy tất cả số chất rắn màu trắng đục trên niêm phong vào phong bì ký hiệu H gửi giám định tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên. Tại bản Kết luận giám định số 1583/KL-KTHS ngày 10/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Chất rắn màu trắng đục trong phong bì ký hiệu H gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,339 gam.
Quá trình điều tra, Hoàng Văn Đ khai nhận: Khoảng 07 giờ ngày 02/10/2022, Đ bắt xe khách đi từ huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên lên khu vực tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma tuý sử dụng. Khi đến nơi, Đ đi bộ vào trước cửa 01 ngôi nhà có cửa sắt đóng kín, có khoét một ô vuông ở cánh cửa nằm ở hành lang đường bên phải đường Quốc lộ 3 cũ theo hướng Hà Nội đi Thái Nguyên. Đứng trước cửa ngôi nhà, Đ đưa số tiền 500.000 đồng qua khe cửa sắt vào bên trong ngôi nhà, ở bên trong có người cầm tiền rồi đưa ra cho Đ 01 gói nilon, bên trong có chứa ma tuý loại Heroine (Đ không biết chủ ngôi nhà và người bán ma tuý cho mình là ai). Sau khi mua được ma tuý, Đ cầm trong bàn tay phải và đi bộ sang bên đường đối diện để bắt xe về thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Mục đích Đ mua ma tuý là để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích gì khác.
Vật chứng vụ án: 01 phong bì niêm phong ký hiệu H, bên trong có 0,337 gam ma tuý loại Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao mẫu; 01 phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong chứa vỏ bao mẫu lưu kho được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản Cáo trạng số: 163/CT-VKSPY ngày 15/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng số: 163/CT-VKSPY ngày 15/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên và đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn Đ mức án từ 30 đến 36 tháng tù giam.
3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Đ.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu H ghi hoàn trả 0,337 gam mẫu H sau giám định và vỏ bao gói; 01 (một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi lưu kho.
5. Về án phí và quyền kháng cáo: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo theo quy định pháp luật.
- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn Đ trình bày quan điểm tranh luận đối đáp với ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát: Người bào chữa nhất trí với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về xử lý vật chứng, hình phạt bổ sung, án phí mà Đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị với Hội đồng xét xử đối với bị cáo Hoàng Văn Đ. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt đối với bị cáo thì cân nhắc, xem xét về nhân thân của bị cáo, bị cáo là người có nhân thân tốt, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự , bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, bị cáo có tuổi đời còn trẻ, nhận thức pháp luật có phần còn hạn chế và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt từ 18 tháng đến 24 tháng tù đối với bị cáo Hoàng Văn Đ.
Trong phần tranh luận, bị cáo nhất trí với ý kiến bào chữa của người bào chữa và không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt đề nghị áp dụng.
Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng, thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Văn Đ tại phiên toà là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp lệ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản thu giữ vật chứng và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do bản thân là người nghiện chất ma túy nên vào hồi 09 giờ ngày 02/10/2022, tại khu vực tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; Hoàng Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,339 gam ma tuý, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Công an phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, bản Cáo trạng số: 163/CT-VKSPY ngày 15/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Nội dung điều luật quy định:
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...
c) Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội là do bị cáo không chịu lao động, tu dưỡng, rèn luyện nên đã mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như trên.
. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:
- Về nhân thân: Qua phân tích các yêu cấu tố về nhân thân người phạm tội, Hội đồng xét xử thấy: Quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do đó bị cáo là người có nhân thân tốt.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tệ nạn xã hội đã và đang là vấn đề nhức nhối trong xã hội, gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống nhân dân, bộ mặt xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước. Trong đó, tệ nạn ma túy được xem là một trong những tệ nạn nguy hiểm hàng đầu cần được sớm loại bỏ và ngăn chặn sự lây lan trong cộng đồng. Mặt khác, ma túy không chỉ là một tệ nạn mà đó còn là "hung thần" cướp đi tuổi trẻ, tương lai, thậm chí là mạng sống của hàng triệu người trên thế thời. Do đó việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết.
Hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương và làm phát sinh thêm các loại tội phạm khác nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp được chấp nhận.
Đối với quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn Đ, Hội đồng xét xử thấy: Việc người bào chữa đề nghị áp dụng mức án từ 18 đến 24 tháng tù đối với bị cáo là chưa phù hợp, bởi lẽ: Hiện nay, tình hình tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói chung và thành phố Phổ Yên nói riêng đang có chiều hướng gia tăng và diễn biến tội phạm rất phức tạp, do đó cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm trong toàn xã hội. Vì vậy mức án mà người bào chữa đề nghị áp dụng đối với bị cáo là chưa tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 còn quy định:
“…5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản…”
Tuy nhiên, qua xem xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, thuộc diện người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế khó khăn, không có việc làm, không có thu nhập ổn định, phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
. Về Biện pháp tư pháp:
Đối với: 01 (một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu H ghi hoàn trả 0,337 gam mẫu H sau giám định và vỏ bao gói; 01 (một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi lưu kho. Xác định là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, không có giá trị sử dụng và bị cấm lưu thông nên cần xử lý tịch thu, tiêu hủy.
. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đ.
. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
. Các vấn đề khác của vụ án: Về nguồn gốc số ma túy Heroine, theo Hoàng Văn Đ khai mua tại ngôi nhà có cửa sắt đóng kín, có khoét một ô vuông ở cánh cửa nằm phía bên phải đường Quốc lộ 3 cũ hướng Hà Nội đi Thái Nguyên thuộc khu vực tổ dân phố Kim Tỉnh, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Đ không biết chủ ngôi nhà và người bán ma túy cho mình là ai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên sẽ tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 46, Điều 47; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Áp dụng Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt:
2.1 Hình phạt chính:
Xử phạt Bị cáo Hoàng Văn Đ 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/10/2022.
- Quyết định tạm giam bị cáo Hoàng Văn Đ 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo công tác thi hành án.
2.2 Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Hoàng Văn Đ theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
3. Về Biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu H ghi hoàn trả 0,337 gam mẫu H sau giám định và vỏ bao gói; 01 (một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi lưu kho.
(Số vật chứng trên được chuyển đến bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên theo biên bản giao nhận ngày 16/11/2022)
4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn Đ.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Hoàng Văn Đ có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND TP. Phổ Yên; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên; - Công an TP. Phổ Yên; - Chi cục THADS TP. Phổ Yên; - Bị cáo; Đương sự trong vụ án (nếu có); - Người bào chữa cho bị cáo (Nếu có) - Lưu hồ sơ vụ án./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Âu Văn Hồ |