- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lộc Trung T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lộc Trung T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 163/2022/HS-ST Ngày 07 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Hồng Thu
Bà Đặng Thị Lan Anh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Phượng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Dương Thu Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 153/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2022/HSST-QĐ ngày 02/12/2022, đối với bị cáo:
Lộc Trung T, sinh ngày 21/08/1991 tại Lạng Sơn; nơi cư trú: Ngõ 80, đường T1, khối *, phường T1, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Tr và bà Lộc Thi N (cả hai đều đã chết); vợ tên Trương Thị S, sinh năm 1987 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 05 tháng tù giam về tội Cố ý gây thương tích tại Bản án số 35/2010/HSPT ngày 20/4/2010; bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lạng Sơn từ ngày 10/8/2022 đến nay có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Hoàng Thị L1, sinh năm 1987. Trú tại: Số *, ngách **, ngõ 80 đường X, phường T1, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1957, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 50 phút ngày 10/8/2022, Tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường P, phường T1, thành phố L đã phát hiện, bắt quả tang Lộc Trung T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi quần bên phải phía trước Lộc Trung T đang mặc có 01 gói nilon màu đen bên trong có 01 gói giấy màu trắng chứ a chất bột màu trắng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 12U1- 020.58.
Tại Bản kết luận giám định số 289/KL-KTHS ngày 12/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn xác định: Chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroin có khối lượng 0,155g.
Tại Cáo trạng số 148/CT-VKS ngày 10/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lộc Trung T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Lộc Trung T khai nhận: Bản thân sử dụng ma túy Heroin từ năm 2021. Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 10/8/2022, bị cáo mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 12U1- 020.58 của chị Hoàng Thị L1 (là hàng xóm) đi đến khu vực ngõ Z, đường A, phường V, thành phố L gặp và mua 01 gói ma túy Heroin với giá 100.000đ với một người đàn ông tên Q, bị cáo không biết rõ họ tên, địa chỉ rồi cất vào túi quần bên phải đang mặc và đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực đường P, phường T1 thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Hoàng Thị L1 vắng mặt tại phiên tòa, quá trình điều tra khai: Chị và Lộc Trung T có quan hệ là hàng xóm. Ngày 10/8/2022 Lộc Trung T có hỏi mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 12U1- 020.58 của gia đình chị nói là đi có việc nên chị đã cho mượn, sau đó bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy chị không được biết. Chiếc xe đó là xe của chị mua vào khoảng giữa năm 2013, đăng ký xe mang tên chị. Hiện chị đã được nhận lại xe, không có ý kiến yêu cầu gì.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lộc Trung T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lộc Trung T từ 13 (mười ba) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng mẫu vật là chất ma túy còn lại sau giám định; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Lộc Trung T không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và bị cáo không trình bày phần lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị L1 vắng mặt, nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Lộc Trung T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định: Ngày 10/8/2022 tại khu vực đường P, phường T1, thành phố L, Lộc Trung T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,155 gam ma túy Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn đối với bị cáo Lộc Trung T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy là loại độc dược gây nghiện, rất có hại đối với sức khỏe con người, do Nhà nước độc quyền quản lý. Mọi hành vi trái phép có liên quan đến ma túy đều phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Bản thân bi ̣ cáo nhâ ̣n thứ c được tác ha ̣i của ma túy và biết hành vi Tàng trữ chất ma túy là trái phép, bi ̣ pháp luâ ̣t ngăn cấm, nhưng bi ̣ cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân, hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là không có.
Về nhân thân: Năm 2010 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 05 tháng tù giam về tội Cố ý gây thương tích tại Bản án số 35/2010/HSPT ngày 20/4/2010, tuy đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, đã được pháp luật giáo dục cải tạo nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân, nay lại phạm tội, thể hiện bị cáo là người thiếu ý thức tu dưỡng và coi thường pháp luật.
Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi pha ̣m tô ̣i, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và đảm bảo tính răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Căn cứ kết quả xác minh thể hiện bị cáo Lộc Trung T không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do không có khả năng thi hành.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,133 gam ma túy heroine còn lại sau giám định (phần hao hụt do trích làm mẫu giám định) được đựng trong 01 phong bì thư đã niêm phong, là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 12U1- 020.58, xe cũ đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án, ngày 23/8/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lạng Sơn đã trả lại xe cho chủ sở hữu là chị Hoàng Thị L1, nay Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người đàn ông tên Q, bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo ở khu vực ngõ Tùng Lâm, đường Chu Văn An, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn, do bị cáo không biết họ, tên đệm và địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan điều tra không xác định được để xử lý, nay Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50; Điều 47 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 292; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lộc Trung T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lộc Trung T 01 (một) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 10/8/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy 0,133 gam ma túy Heroine (phần hao hụt do trích làm mẫu giám định) được đựng trong 01 phong bì thư đã niêm phong.
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/11/2022).
4. Về án phí: Bị cáo Lộc Trung T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND Tp Lạng Sơn, T. La ̣ng Sơn; - Công an Tp Lạng Sơn, T. La ̣ng Sơn; - Chi cục THADS Tp Lạng Sơn, T. La ̣ng Sơn; - UBND phường T1, Tp Lạng Sơn, T. Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Thanh |