vanban.org

Bản án 163/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 19/11/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại - bà Nguyễn Thị B.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2021/HS-ST ngày 15-9-2021 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Thị Thảo N có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cho người đại diện hợp pháp của bị hại gồm bà Nguyễn Thị B, cháu Nguyễn Ngọc Phương… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại - bà Nguyễn Thị B.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163/2021/HS-PT
Ngày: 19 - 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diệp.

Các Thẩm phán:

+ Ông Nguyễn Văn Tông;

+ Ông Trần Tuấn Vũ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Song Tố Như, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 159/2021/TLPT-HS ngày 22 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo Lê Thị Thảo N, do có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại, bà Nguyễn Thị B đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2021/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Lê Thị Thảo N, sinh năm 1995 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân Đ, sinh năm 1967 và bà Dương Thị G, sinh năm 1963; chồng: Nguyễn Thiện N, sinh năm 1991 (đã ly hôn), con có 01 người, sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngặn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06-3-2021 đến 06-7-2021; bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1978 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1942; địa chỉ: ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Tây Ninh; (vắng mặt)

- Cháu Nguyễn Phương A, sinh ngày 30/3/2006; địa chỉ: ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Tây Ninh; (Tòa án không triệu tập)

- Cháu Nguyễn Ngọc Phương T, sinh ngày 01/10/2012; địa chỉ: ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Tây Ninh; (Tòa án không triệu tập)

Người giám hộ cho cháu Phương A và cháu Phương T: Ông Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Tây Ninh; (Tòa án không triệu tập)

Người đại diện theo ủy quyền của bà B: Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp X, xã P, huyện T, tỉnh Tây Ninh; (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Trần Minh T, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp X, xã P, huyện T, tỉnh Tây Ninh; (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Anh Nguyễn Phúc H, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp X, xã P, huyện T, tỉnh Tây Ninh; (Tòa án không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 04-11-2021, Trần Minh T giao cho Lê Thị Thảo N chưa có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 70K1-266.76 chở T lưu thông trên đường nhựa hướng từ Tỉnh lộ 793 đi về Tỉnh lộ 785. Đến khu vực ấp X, xã P, huyện T, tỉnh Tây Ninh, Nguyên điều khiển xe tốc độ nhanh, không làm chủ được tay lái nên điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái của hướng đi, đâm vào xe mô tô mang biển kiểm soát 89H5-9669 do chị Nguyễn Thị H điều khiển đang lưu thông theo hướng ngược lại và tiếp tục va chạm với xe mô tô mang biển kiểm soát 70K1-547.01 do anh Nguyễn Phúc H điều khiển, đang dừng trong lề đường cùng hướng với xe chị H; hậu quả làm chị H tử vong.

Kết luận giám định số 193/2020/TT ngày 18-11-2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Tây Ninh kết luận: Nguyên nhân tử vong của bà Nguyễn Thị H là do chấn thương sọ não.

Kết luận giám định pháp về hóa pháp số HST 799/ĐC.2020 ngày 17-11-2020 của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh đối với mẫu máu của Nguyễn Thị H, kết luận: Dưới ngưỡng phát hiện Ethanonl ngoại sinh trong máu.

Kết luận giám định pháp y về hóa pháp số HST 800/DC.2020 ngày 17-11-2020 của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh, đối với mẫu máu của Lê Thị Thảo N, kết luận: Dưới ngưỡng phát hiện Ethanonl ngoại sinh trong máu.

Kết luận giám định pháp y về hóa pháp số HST 801/DC.2020 ngày 17-11-2020 của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh, đối với mẫu máu của Lê Thị Thảo N, kết luận: Dưới ngưỡng phát hiện Ethanonl ngoại sinh trong máu.

Kết luận giám định pháp y về hóa pháp số MST 932/ĐC.2020 ngày 14-12-2020 của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh đối với mẫu máu của Lê Thị Thảo N, kết luận: Có sự hiện diện của Paracetamonl (thuốc giảm đau, hạ sốt)

Kết luận giám định pháp y về hóa pháp số MST 933/ĐC.2020 ngày 14-12-2020 của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh đối với mẫu máu của Trần Minh T, kết luận: Không phát hiện các chất thường gặp Acetaminophen (Paracetamonl), Amitriptyline, Amphetamine,...

Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu, ngày 04-11-2020 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tây Ninh đối với Lê Thị Thảo N, kết quả: Âm tính.

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 01 xe mô tô biển kiểm soát 70K1-547.01 đã trả lại cho anh Nguyễn Phúc H; 01 xe mô tô biển kiểm soát 89H5-9669 đã trả cho anh Nguyễn Xuân T (là anh ruột chị H) và 01 xe mô tô biển kiểm soát 70K1-266.76 không có giấy chứng nhận đăng ký chuyển cho Công an huyện T xử lý.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 56/2021/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh đã xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Thảo N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Thảo N 03 (ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Thị Thảo N có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cho người đại diện hợp pháp của bị hại gồm bà Nguyễn Thị B, cháu Nguyễn Ngọc Phương Anh, cháu Nguyễn Ngọc Phương Thảo số tiền 110.000.000 (một trăm mười triệu) đồng

Buộc bị cáo Lê Thị Thảo N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Ngọc Phương Anh (sinh ngày 30-6-2006) và cháu Nguyễn Ngọc Phương Thảo (sinh ngày 01-10-2012), mỗi cháu 1.975.000 đồng/tháng, từ tháng 11 năm 2020 đến khi các cháu đủ 18 tuổi, người nhận tiền cấp dưỡng là anh Nguyễn Xuân Đ.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về các biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 27 tháng 9 năm 2021, người đại diện hợp pháp của bị hại, bà Nguyễn Thị B có đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc anh Trần Minh T có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cùng với bị cáo Lê Thị Thảo N, tăng nặng hình phạt đối với bị cáo để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm

Ngày 16 tháng 11 năm 2021, Tòa án cấp phúc thẩm nhận được đơn thay đổi yêu cầu kháng cáo đề ngày 10 tháng 11 năm 2021 của bà Nguyễn Thị B, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, điều tra lại đối với Trần Minh T vì người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội là Trần Minh T.

Tại phiên tòa,

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị B, anh Nguyễn Xuân T đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Lê Thị Thảo N, không yêu cầu xem xét lại trách nhiệm dân sự của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị B; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo không tham gia tranh luận.

Bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tuy chưa có giấy phép lái xe theo quy định nhưng bị cáo Lê Thị Thảo N vẫn điều khiển xe mô tô tham gia giao thông với tốc độ cao, không làm chủ được tay lái lấn sang phần đường bên trái dẫn đến đâm vào xe mô-tô do chị Nguyễn Thị H đang lưu thông hướng ngược lại và xe mô tô của anh Nguyễn Phúc H đang đậu xe trong lề đường, gây tai nạn làm cho chị H tử vong. Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Thị Thảo N về tội “Vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo Nguyên đã điều khiển xe ô-tô có dung tích xi lanh trên 70 cm3 tham gia giao thông khi chưa có giấy phép lái xe theo quy định, là vi phạm quy định tại khoản 9, 19 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ. Hậu quả làm chết một người, gây đau thương cho gia đình nạn nhân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự giao thông đường bộ.

Xét kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại:

Về nội dung kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Lê Thị Thảo N, Hội đồng xét xử thấy rằng khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo; đã bồi thường một phần thiệt hại cho bên bị hại là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù là tương xứng với tính chất và mức độ hành vi của bị cáo. Do đó, không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại về việc đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo.

Về yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự anh Trần Minh T và yêu cầu buộc anh T liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại với bị cáo Lê Thị Thảo N, Hội đồng xét xử thấy rằng tại các biên bản lấy lời khai anh Trần Minh T ngày 22-12-2020 (bút lục số 183, 184) và ngày 19-3-2021 (bút lục số 199, 200), anh T trình bày do thấy trước đó bị cáo Nguyên có sử dụng 01 xe mô tô Wave có dung tích xi lanh trêm 70 cm3 và cả hai cũng không nhắc đến việc Nguyên có giấy phép lái xe hay chưa nên anh T không biết việc bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định. Mặt khác, xe mô tô mang biển kiểm soát 70K1-266.76 mà anh T giao cho bị cáo Nguyên điều khiển không thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Trí. Căn cứ Biên bản xác minh ngày 20-4-2021 (bút lục số 163) và Kết luận giám định số 488/KL-KTHS ngày 21-4-2021 (bút lục 258) xác định xe mô tô mang biển kiểm soát 70K1-266.76 có số khung tự đóng, số máy bị đục sửa và không xác định được thanh niên tên Huy, chủ sở hữu của xe mô tô này, là người đã đổi xe với anh T nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị B đối với nội dung kháng cáo nêu trên.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do kháng cáo được chấp nhận một phần nên người đại diện hợp pháp của bị hại, bà Nguyễn Thị B không phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại - bà Nguyễn Thị B.

3. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2021/HS-ST ngày 15-9-2021 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh.

4. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Bị cáo Lê Thị Thảo N 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

5. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Thị Thảo N có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cho người đại diện hợp pháp của bị hại gồm bà Nguyễn Thị B, cháu Nguyễn Ngọc Phương Anh, cháu Nguyễn Ngọc Phương Thảo số tiền 110.000.000 (một trăm mười triệu) đồng.

Buộc bị cáo Lê Thị Thảo N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Ngọc Phương Anh (sinh ngày 30-6-2006) và cháu Nguyễn Ngọc Phương Thảo (sinh ngày 01-10-2012), mỗi cháu 1.975.000 đồng/tháng, từ tháng 11 năm 2020 đến khi các cháu đủ 18 tuổi, người nhận tiền cấp dưỡng là anh Nguyễn Xuân Đ.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không trả số tiền nêu trên thì hàng tháng, người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

6. Về án phí: Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bà Nguyễn Thị B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Diệp Nguyễn Văn Tông Trần Tuấn Vũ

Cỡ chữ