vanban.org

Bản án 163/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP VNTV.

Buộc ông Nguyễn Văn H, bà Phùng Thị Diệu H1 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP VNTV số tiền 559.515.598 đồng, gồm: Nợ gốc: 442.198.465 đồng, tiền lãi tính đến ngày 18/10/2021 là 117.317.133 đồng (trong đó: Lãi trong hạn: 90.800.134 đồng, lãi quá hạn: 26.516.999 đồng) và … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP VNTV.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐĂKLĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163/2021/DS-ST
Ngày: 18/10/2021
“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP.BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Dự

Các hội thẩm nhân dân: - Ông Hồ Tùng Mận

- Bà Phạm Thị Tuyết Nhung

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Vi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Y Lương Byă - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 217/2021/ TLST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2021, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2021/QĐXXST-DS ngày 09/8/2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 180/2021/QĐST-DS ngày 30/9/2021, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP VNTV

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành Tr – chức vụ: Phó giám đốc trung tâm xử lý nợ pháp lý

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trung: Ông Ngân Xuân T – chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ. (có mặt)

Địa chỉ: NQ, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

* Bị đơn:

+ Ông Nguyễn Văn H; địa chỉ: xã HT, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)

+ Bà Phùng Thị Diệu H1; địa chỉ: xã HT, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 25/6/2019 Ngân hàng TMCP VNTV có cho ông Nguyễn Văn H, bà Phùng Thị Diệu H1 vay theo hợp đồng tín dụng số LN1906031432550/ĐAK/HĐTD số tiền 560.000.000 đồng, thời hạn vay là 60 tháng, mục đích vay là mua ô tô tải, lãi suất 10,9%/năm, lãi suất thay đổi định kỳ 3 tháng/lần, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.

Tài sản thế chấp là 01 xe ô tô tải nhãn hiệu Huyndai, biển số 47C - 212.05, giấy chứng nhận đăng ký xe số 051663 do phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 21/6/2019 đúng tên Nguyễn Văn H.

Tạm tính đến ngày 18/3/2012 dư nợ của ông H, bà H1 là 499.634.556 đồng trong đó: nợ gốc: 442.198.465 đồng, nợ lãi: 57.436.091 đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng ông H, bà H1 đã vi phạm các kỳ trả nợ gốc và lãi từ ngày 19/6/2020 ngân hàng đã tạo điều kiện để ông bà khắc phục trả nợ nhưng không có kết quả, ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn, yêu cầu bàn giao tài sản thế chấp nhưng ông bà không hợp tác.

Nay ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột buộc ông Nguyễn Văn H, bà Phùng Thị Diệu H1 phải trả toàn bộ số nợ gốc và nợ lãi là 499.634.556 đồng trong đó: nợ gốc: 442.198.465 đồng, nợ lãi: 57.436.091 đồng lãi tạm tính đến ngày 18/3/2021 và số tiền lãi phát sinh theo các hợp đồng đến khi thanh toán xong nợ gốc.

Trong trường hợp ông Nguyễn Văn H, bà Phùng Thị Diệu H1 không thanh toán được hoặc thanh toán không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Phùng Thị Diệu H1 trình bày:

Tôi là vợ ông Nguyễn Văn H, ngày 26/5/2019 tôi và ông H có vay của ngân hàng số tiền 560.000.000 đồng, thời gian vay 60 tháng, mục đích vay là mua xe ô tô, để đảm bảo khoản vay vợ chồng tôi đã thế chấp xe ô tô biển số 47C

- 212.05

Quá trình thực hiện chúng tôi đã thanh toán cho Ngân hàng được khoảng 14 – 15 tháng cả tiền gốc và tiền lãi cho ngân hàng. Hiện nay do tình hình kinh tế khó khăn nên tôi xin trả dần.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn H không tham gia tố tụng

* Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn H, bà Phùng Thị Diệu H1 phải thanh toán số nợ gốc là 442.198.465 đồng và tiền lãi tính đến thời điểm xét xử là 117.317.133 đồng (trong đó: Lãi trong hạn: 90.800.134 đồng, lãi quá hạn: 26.516.999 đồng). Trong trường hợp ông Nguyễn Văn H, bà Phùng Thị Diệu H1 không thanh toán được hoặc thanh toán không đầy đủ thì ngân hàng có quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Bị đơn bà Phùng Thị Diệu H1 trình bày do hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị được trả dần.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định của BLTTDS. Nguyên đơn, bị đơn bà Phùng Thị Diệu H1 đã chấp hành đúng quy định của BLTTDS, bị đơn ông Nguyễn Văn H chưa chấp hành đúng quy định của BLTTDS.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP VNTV buộc bị đơn ông Nguyễn Văn H, bà Phùng Thị Diệu H1 phải trả số tiền nợ gốc là 442.198.465 đồng và tiền lãi tính đến thời điểm xét xử là 117.317.133 đồng (trong đó: Lãi trong hạn: 90.800.137 đồng, lãi quá hạn: 26.516.999 đồng). Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng tín dụng, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết, xét xử vụ án bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử thấy rằng:

Ngày 25/6/2019, Ngân hàng TMCP VNTV có ký kết hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1906031432550/ĐAK/HĐTD với ông Nguyễn Văn H, bà Phùng Thị Diệu H1, theo hợp đồng các bên thỏa thuận: Ông H, bà H1 vay của ngân hàng số tiền 560.000.000 đồng, thời hạn vay: 60 tháng; lãi suất 10,9%/năm, lãi quá hạn tối đa bằng 150% so với lãi trong hạn. Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa ông Nguyễn Văn H, bà Phùng Thị Diệu H1 và Ngân hàng TMCP VNTV là giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện, nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, hợp đồng này có hiệu lực pháp luật sau khi các bên ký kết với nhau.

Để đảm bảo khoản vay, ông H, bà H1 đã thế chấp tài sản là xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, biển số 47C-212.05, số khung: T7KAJ000252, số máy D4GAJJ236309. Việc thế chấp chiếc xe này được đăng ký biện pháp bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố ĐN theo quy định pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ngày 25/6/2019 ngân hàng đã giao số tiền 560.000.000 đồng cho ông H, bà H1. Tuy nhiên, đến thời gian thanh toán ông ông H, bà H1 không thanh toán tiền cho ngân hàng mặc dù đã được nhắc nhở nhiều lần, ngân hàng đã tiến hành làm việc với ông ông H, bà H1 để yêu cầu bàn giao tài sản thế chấp để xử lý nợ nhưng ông H, bà H1 không tự nguyện xử lý tài sản thế chấp để thanh toán tiền cho ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ của người vay được quy định tại Điều 3 Hợp đồng tín dụng đã được các bên ký kết.

Do đó, việc nguyên đơn Ngân hàng TMCP VNTV khởi kiện là phù hợp với quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Nguyễn Văn H, bà Phùng Thị Diệu H1 phải trả cho ngân hàng số tiền 559.515.598 đồng, gồm: Nợ gốc: 442.198.465 đồng, tiền lãi tính đến ngày 18/10/2021 là 117.317.133 đồng (trong đó: Lãi trong hạn: 90.800.134 đồng, lãi quá hạn: 26.516.999 đồng) và tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số LN1906031432550/ĐAK/HĐTD ngày 25/6/2019 mà hai bên đã ký kết với nhau cho đến khi trả hết nợ gốc.

Sau khi ông H, bà H1 thanh toán hết các khoản nợ thì Ngân hàng TMCP VNTV có trách nhiệm trả cho ông H, bà H1 bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 051663 do Công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 21/6/2019 cho ông Nguyễn Văn H

Trong trường hợp ông Nguyễn Văn H, bà Phùng Thị Diệu H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, biển số 47C-212.05, số khung: T7KAJ000252, số máy D4GAJJ236309, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 051663 do Công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 21/6/2019 cho ông Nguyễn Văn H để thu hồi nợ.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Văn H, bà Phùng Thị Diệu H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, cụ thể: 20.000.000 đồng + 4% x 159.515.598 đồng = 26.380.623 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP VNTV tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng Điều 357; Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 37 Luật hôn nhân gia đình;

- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP VNTV.

Buộc ông Nguyễn Văn H, bà Phùng Thị Diệu H1 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP VNTV số tiền 559.515.598 đồng, gồm: Nợ gốc: 442.198.465 đồng, tiền lãi tính đến ngày 18/10/2021 là 117.317.133 đồng (trong đó: Lãi trong hạn: 90.800.134 đồng, lãi quá hạn: 26.516.999 đồng) và tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số LN1906031432550/ĐAK/HĐTD ngày 25/6/2019 mà hai bên đã ký kết với nhau cho đến khi trả hết nợ gốc.

Sau khi ông H, bà H1 thanh toán hết các khoản nợ thì Ngân hàng TMCP VNTV có trách nhiệm trả cho ông H, bà H1 bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 051663 do Công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 21/6/2019 cho ông Nguyễn Văn H.

Trong trường hợp ông Nguyễn Văn H, bà Phùng Thị Diệu H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, biển số 47C-212.05, số khung: T7KAJ000252, số máy D4GAJJ236309, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 051663 do Công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 21/6/2019 cho ông Nguyễn Văn H để thu hồi nợ.

[2] Về án phí:

- Ông Nguyễn Văn H, bà Phùng Thị Diệu H1 phải chịu 26.380.623 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP VNTV số tiền 11.993.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 60AA/2021/0003905 ngày 20/4/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật THADS thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7 và điều 9 Luật THADS; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THADS.

Cỡ chữ