vanban.org

Bản án 163/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 08/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T 22 (hai mƣơi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/02/2020. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TTMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163/2020/HSST
Ngày: 08/7/2020.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Tiền

2. Ông Tạ Đức Minh

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hồng Hà – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 173/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2020 theo Q định đưa vụ án ra xét xử số: 175/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

PHẠM THANH T , sinh năm 1993; tại Hà Nội; hộ khẩu thường trú và nơi ở: Số B, ngõ G, phường P, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; con ông: Phạm Quang H (sinh năm 1956) và bà: Chu Thị Mai B (sinh năm 1959); gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba;

Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 207 ngày 01/3/2020 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo có 02 tiền sự: năm 2010 và năm 2011 Công an phường Trung tự, quận Đống Đa, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác và hành vi vi phạm quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ (Đã hết thời hiệu); Tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giữ: ngày 27/02/2020; Tạm giam ngày: 04/03/2020. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội (có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Văn Q ; sinh năm: 1986; HKTT: N, N, Nam Định; Chỗ ở : Khu B T, Gia Lâm, Hà Nội (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ 00 phút ngày 26/02/2020, tổ công tác Công an phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội phối hợp với đại đội 3 PK20E – Công an thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu vực ngã tư đường Đàm Quang Trung – Cổ Linh thuộc phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội phát hiện Phạm Thanh T điều khiển xe máy Future II màu đỏ chở anh Ngô Văn Sỹ (sinh năm: 1996, HKTT: Hoằng Châu, Hoằng Hóa, Thanh Hóa) có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác đã tiến hành dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, Cơ quan công an phát hiện bắt quả tang T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ của T gồm: 03 túi nilong bên trong chứa tinh thể màu trắng (T khai là ma túy methamphetamine), 01 xe máy Future II, BKS: 18F4-1862, 01 điện thoại Samsung Note 3 màu trắng, đã qua sử dụng, vỡ màn hình.

Bản kết luận giám định số 1661/KLGĐ-PC09 ngày 05/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: tinh thể màu trắng bên trong 03 túi ni lông là ma túy loại methamphetamine, tổng khối lượng: 0.640gam.

Tại cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, Phạm Thanh T khai nhận: Do bản thân có nhu cầu sử dụng ma túy đá, nên khoảng 20 giờ 30 phút ngày 26/02/2020 T mượn xe máy Future II, BKS: 18F4-1862 của chủ cai nơi T làm việc để đi tìm mua ma túy về sử dụng . Khi đi T có rủ bạn cùng làm là anh Ngô Văn Sỹ đi cùng, T nói với Sỹ là đi có việc. T điều khiển xe máy chở Sỹ đi từ phòng trọ ở Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội đến khu vực Khâm Thiên, Đống Đa, Hà Nội. Tại đây, T bảo Sỹ ngồi quán nước đợi còn T đi bộ vào trong ngõ, T vào ngõ thì gặp và mua của người đàn ông không qun biết 01 gói bên ngoài dán băng dính màu đen bên trong có 03 gói nilong chứa ma túy methamphetamine với giá 300.000đồng. T cầm gói ma túy bóc băng dính bên ngoài ra cầm 3 gói ma túy ở tay trái rồi đi ra đầu ngõ bảo Sỹ đi về. T điều khiển xe máy chở Sỹ đi về đến khu vực ngã tư đường Đàm Quang Trung – Cổ Linh thuộc phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ 03 gói ma túy như nêu trên. Tại chỗ T khai nhận 03 gói am túy trên là của T mua về để sử dụng cho bản thân. Cơ quan Công an đã lập biên bản niêm phong tang vật và đưa T cùng tang vật về trụ sở để làm việc.

Lời khai của Phạm Thanh T phù hợp với lời khai của người làm chứng có mặt tại hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Đối với Ngô Văn Sỹ là người đi cùng T , điều tra xác định Sỹ không biết việc T tàng trữ trái phép chất ma túy cho đến khi T bị bắt. Xét nghiệm nước tiểu của Sỹ cho kết quả âm tính với ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Long Biên không đặt vấn đề xử lý đối với Sỹ.

Đối với chiếc xe máy Future II màu đỏ đen, BKS: 18F4-1862 mang tên đăng ký xe là anh Bùi Văn Ban (SN: 1965; HKTT: Nam Điền, Nghĩa Hưng, Nam Định), năm 2010 anh Ban bán lại chiếc xe trên cho anh Bùi Văn Q (sinh năm 1986; HKTT: Nam Điền, Nghĩa Hưng, Nam Định; chỗ ở : Khu 31 ha, Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội). Khi cho mượn, anh Q không biết việc T sử dụng để đi mua ma túy. Xét không liên quan đến vụ án, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên đã ra Q định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe máy nhãn hiệu Future II màu đỏ đen, BKS: 18F4-1862 cho anh Q là chủ sở hữu hợp pháp, anh Q đã nhận lại chiếc xe máy và không có ý kiến thắc mắc gì.

Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho T tại khu vực Khâm Thiên, Đống Đa, Hà Nội, do không xác định được nhân thân, nên Cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh làm rõ để xử lý.

Tại bản cáo trạng số 179/CT-VKS-LB ngày 09/6/2020 Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo Phạm Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn Q vẫn giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, chiếc xe máy Future II màu đỏ đen, BKS: 18F4-1862 anh đã nhận lại và không có yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo Phạm Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Thanh T với mức án từ 20 đến 24 tháng tù giam; Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0.640gam ma túy methamphetamine thu giữ của bị cáo; Đề nghị cho thi hành trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Sam sung Note 3 màu trắng đã cũ, vỡ màn hình, không rõ chất lượng, hiện trạng.

Nói lời sau cùng bị cáo nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Q định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, của người làm chứng, biên bản về việc bắt người, vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 23 giờ ngày 26/2/2020, tại khu vực ngã tư đường Đàm Quang Trung - Cổ Linh thuộc phường Long Biên, Long Biên, Hà Nội, Phạm Thanh T bị bắt quả tang cùng tang vật khi đang có hành vi tàng trữ trái phép 03 túi nilong mầu trắng chứa ma túy loại methamphetamine, có tổng khối lượng 0.640gam nhằm mục đích để sử dụng.

Hành vi của bị cáo đã đủ cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý. Tệ nạn ma tuý đã và đang huỷ hoại sức khoẻ, nhân cách của nhiều người, là hiểm họa, đe dọa đến cuộc sống bình yên của mọi người, mọi nhà và toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm hình sự. Đồng thời, ma túy là con đường ngắn nhất dẫn tới HIV/AIDS. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng các chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện, do đó cần phải xử phạt bị cáo một hình phạt tù cách ly với xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tăng nặng: Không

- Giảm nhẹ: Khi lượng hình cũng xem xét, tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự 2015 để xem xét giảm nhẹ hình một phần phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 0.640gam ma túy loại Methamphetamine thu giữ của bị cáo là vật nhà nước cấm lưu hành.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Sam sung Note 3 màu trắng đã cũ, vỡ màn hình, không rõ chất lượng, hiện trạng do không liên quan đến tội phạm nhưng cho tạm giữ lại để bảo đảm công tác thi hành án.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Q ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T 22 (hai mƣơi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/02/2020.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: 0.640gam ma túy loại Methamphetamine (Theo phiếu nhập vật chứng ngày 14/5/2020 có tại kho tang vật Công an quận Long Biên).

- Trả lại bị cáo Phạm Thanh T 01 điện thoại di động Sam sung Note 3 nhưng tạm giữ lại để bảo đảm công tác thi hành án (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/06/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phạm Thanh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ