vanban.org

Bản án 163/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 10/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 08/7/2020) Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ V
TỈNH V

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:163/2020/HS-ST
Ngày 10 tháng 11 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH V

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Nữ Hương Hền

Các Hội thẩm Nhân dân: Ông Nguyễn Công Tước và bà Nguyễn Thị Thúy Nga

Thư ký phiên toà: Ông Trần Mạnh Tuấn- Thư ký Toà án Nhân dân thành phố V.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố V tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hải Nam- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở nhà Văn hóa 2 + 4 phường Ngô Q, thành phố V, tỉnh V xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 145/2020/HS-ST ngày 02 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 136/2020/HSST- QĐ ngày 27 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh H, sinh ngày 03/02/1992 tại V; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố Điền L, thị trấn Hợp H, Huyện Tam D, tỉnh V; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh M và bà Kim Thị B; vợ: Hà Thị H (đã ly hôn); có 02 con: lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016 ; Tiền án: 02 Tại Bản án số 09/HSST ngày 06/02/2018 Tòa án nhân dân Huyện Tam D, tỉnh V xử phạt Nguyễn Minh H 09 tháng tù về tội : “Trộm cắp tài sản ”. Trị giá tài sản trộm cắp là 1.400.000đ. Chấp hành xong hình phạt ngày 01/6/2018. Chấp hành xong án phí tháng 02/2019.Tại bản án số 06/HSST ngày 28/02/2020 Tòa án nhân dân Huyện Tam D, tỉnh V xử phạt Nguyễn Minh H 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản ”. Trị giá tài sản trộm cắp là 525.000đ. Chấp hành xong hình phạt ngày 02/6/2020. Chấp hành xong án phí tháng 5/2020.Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 04/3/2004, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Huyện Tam D, tỉnh V ban hành Quyết định số 6476/QĐ- UB đưa Nguyễn Minh H đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục, Lao động xã hội tỉnh V thời hạn 24 tháng, Chấp hành xong ngày 06/7/2012; Tại bản án số 04/HSST ngày 12/02/2009 Tòa án nhân dân Huyện Tam D, tỉnh V xử phạt Nguyễn Minh H 02 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Phá hủy công trình quan trọng về an ninh quốc gia” và tội “Trộm cắp tài sản”. Trị giá tài sản chiếm đoạt là 22.205.764đ. Chấp hành xong án phí tháng 3/2011; Tại Quyết định số 68/QĐ- XPVPHC ngày 09/10/2017 của Công an Huyện Tam D, tỉnh V xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Minh H số tiền 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”. H chưa nộp tiền phạt. Đến nay đã hết thời hiệu thi hành Quyết định xử phạt; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/7/2020 cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 25 phút ngày 08/7/2020, Tổ công tác Công an xã Định T, thành phố V làm nhiệm vụ tại khu vực đường tàu thuộc xóm Dẫu, xã Định T, thành phố V, tỉnh V phát hiện Nguyễn Minh H có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ tại túi áo phía trước đang mặc của H 01 gói giấy nhỏ bên trong có chất bột màu trắng (H khai là ma túy Heroine vừa mua được mục đích để sử dụng) được niêm phong ký hiệu A1; thu giữ tại túi quần bên phải đang mặc của H 01 chiếc xi lanh nhựa và 01 lọ nước cất chưa sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 1699/KLGĐ ngày 11/7/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh V kết luận: “Chất bột, cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,1510g loại Heroine. Hoàn lại mẫu vật còn lại sau giám định gồm: A1= 0,1109g mẫu cùng toàn bộ bao gói”.

Về nguồn gốc ma túy thu giữ của Nguyễn Minh H, quá trình điều tra H khai nhận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 08/7/2020 H đang ở nhà thì nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên đi xe bus xuống thành phố V rồi đi vào ngõ 4 phường Ngô Quyền, thành phố V mua của người phụ nữ không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000đ rồi cất giấu vào túi áo và tìm nơi để sử dụng. Khi đến khu vực đường tàu thuộc xóm D, xã Định T, thành phố V thì bị phát hiện bắt quả tang.

Tại Cáo trạng số: 156/CT-VKSNDTPVY ngày 02/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,1109g ma túy Heroine cùng toàn bộ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 xi lanh nhựa và 01 lọ nước cất.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận khác. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo Nguyễn Minh H tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 08 giờ 30 phút ngày 08/7/2020, tổ công tác Công an xã Định T, thành phố V làm nhiệm vụ tại khu vực đường tàu thuộc xóm D, xã Định T, thành phố V phát hiện Nguyễn Minh H có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra phát hiện, thu giữ tại túi áo phía trước đang mặc của H 01 gói giấy nhỏ bên trong có 0,1510g chất bột màu trắng, qua giám định là ma túy Heroine.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Minh H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận cHển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

……

c)Heroine…..có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam”.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người; gây ra một lớp người nghiện trong xã hội làm tác hại cho chính bản thân người nghiện và gia đình họ cũng như cho cộng đồng nói chung. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 05 năm tù nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.

Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân xấu: Bị xử lý hành chính; đưa đi cai nghiện bắt buộc; bị Tòa án nhân dân Huyện Tam D, tỉnh V xử phạt 02 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Phá hủy công trình quan trọng về an ninh quốc gia” và tội “Trộm cắp tài sản” tuy đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân chứng tỏ bị cáo là đối tượng rất coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải để hoàn lương. Mặt khác, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, hiện tại trên địa bàn thành phố V các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng. Đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã “Thành khẩn khai báo”; bố mẹ đẻ bị cáo là người có công vì được tặng thưởng Huân H chương kháng chiến nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Mặc dù bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích nhưng không thuộc tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự vì cả 02 Bán án bị cáo đều bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” và những lần trộm cắp này trị giá tài sản đều dưới 2.000.000đ nhưng lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo không có tài sản và nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với những người có liên quan đến vụ án gồm:

Đối với người phụ nữ (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đã bán ma túy cho Nguyễn Minh H vào ngày 08/7/2020 tại khu vực ngõ 4 đường Trần Quốc Tuấn, phường Ngô Quyền, thành phố V, tỉnh V. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được lai lịch nên không có căn cứ để giải quyết trong vụ án này.

Về vật chứng: Đối với 0,1109 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định; 01 xi lanh nhựa và 01 lọ nước cất cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 08/7/2020)

Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,1109 gam ma túy Heroine và toàn bộ bao gói còn sau giám định; 01 xi lanh nhựa và 01 lọ nước cất. (Tài sản có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/11/2020).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Minh H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ