- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Việt D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 163/2020/HS-ST Ngày: 04-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Nhật Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Lâm.
Ông Thượng Văn Kịnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 141/2020/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Việt D, sinh năm 1994 tại Bình Dương. Nơi cư trú: khu 7, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ h c vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trương B và bà Trương Thị N; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/02/2020 cho đến nay; có mặt.
Người làm chứng: Ông Bồ Thanh N; Ông Trương Hoàng H, tất cả vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Nguyễn Việt D là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 21 giờ ngày 18/02/2020, D sử dụng điện thoại di động số 0942.094.570 g i vào số thuê bao di động 0923.531.XXX của một người tên Út Tiêu (không rõ địa chỉ) để hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá. Út Tiêu đồng ý bán nên kêu D đến khu vực huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh gặp Út Tiêu để lấy. Sau đó, D điều khiển xe mô tô biển số 61B1-174.XX chạy đến địa bàn huyện Củ Chi thì dừng xe lại g i điện thoại báo cho Út Tiêu biết chỗ D đang đứng chờ. Khoảng 05 phút sau, Út Tiêu chạy xe mô tô đến lấy 300.000 đồng và đưa cho D một gói ma túy đá. D cất vào trong túi quần rồi điều khiển xe về nhà. Khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày, D chạy xe đến hẻm đường Nguyễn Hữu Cảnh, thuộc tổ 25, khu phố 2, phường Phú Th , thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an phường Phú Th kiểm tra bắt giữ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo D đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-Về các vấn đề khác của vụ án:
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói ny lon hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu trắng, có số thuê bao di động 0942.094.570 và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen-trắng, biển số 61B1-174.15.
Ngày 25/02/2020, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có Kết luận giám định số 74/MT-PC09 kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,5010 gam.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu trắng, có số thuê bao di động 0942.094.XX và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen-trắng, biển số 61B1-174.XX, số khung C640CY7199XX, số máy 5C64-7199XX là tài sản thuộc quyền sở hữu của Nguyễn Việt D nhưng không liên quan đến hành vi phạm tội nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho Nguyễn Việt D.
Đối với 01 gói ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng sau giám định là 0,4711 gam là vật chứng của vụ án nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển vật chứng nêu trên cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với người tên Út Tiêu đã bán ma túy cho D để sử dụng. Do không xác định rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.
-Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:
Cáo trạng số 159/CT-VKS-HS ngày 03/6/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Việt D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đề nghị Hội đồng xét xử:
+Về hình phạt: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo D mức hình phạt từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
+Về biện pháp tư pháp:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,4711 gam ma túy loại Methamphetamine.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu trắng, có số thuê bao di động 0942.094.XXX và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen-trắng, biển số 61B1-174.15, số khung C640CY719937, số máy 5C64-7199XX là tài sản cá nhân của Nguyễn Việt D không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một
Bị cáo Nguyễn Việt D không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Việt D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 18/02/2020, Nguyễn Việt D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,5010 gam ma túy, loại Methamphetamine tại hẻm đường Nguyễn Hữu Cảnh, thuộc tổ 25, khu phố 2, phường Phú Th , thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để sử dụng thì bị Công an phường Phú Th kiểm tra và phát hiện bắt quả tang. Do đó, hành vi của bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền chất ma túy của nhà nước, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Hiện nay, tình hình nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong m i tầng lớp. Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn này chưa được đẩy lùi chính là có sự tiếp tay của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử bị cáo mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét đề nghị của kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về vật chứng của vụ án:
- Một gói ma túy có tr ng lượng 0,4711 gam loại Methamphetamine là tang vật của vụ án không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen - trắng, biển kiểm soát 61B1-174.XX (số khung RLCS5C640CY7199XX, số máy 5C64-7199XX) và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng, có sim số 0942.094.XXX là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 260 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/02/2020.
2. Về vật chứng của vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy: 0,4711 gam ma túy, loại Methamphetamine.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Việt D 01 (một) xe mô tô hai bánh đã qua sử dụng hiệu Yamaha Sirius, màu đen – trắng, được gắn biển kiểm soát 61B1-174.XX (số khung C640CY7199XX, số máy 5C64-7199XX) và 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng, có sim số 0942.094.XXX (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động).
(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 135.20 ngày 03/6/2020 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu Một).
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Việt D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Công an thành phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một; - Sở Tư Pháp tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP Các hội thẩm nhân dân Phạm Văn Lâm Thượng Văn Kịnh | TM. HỘI Đ NG X T X SƠ TH M TH M PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Nhật Thanh Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Cao Nhật Thanh |