- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nông Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| `` + TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN Bản án số: 163/2020/HS-ST Ngày 28 - 10 - 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Đình Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thanh Thủy;
Ông Hoàng Đức Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Hữu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 165/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2020, đối với bị cáo:
Nông Văn L; tên gọi khác: Không, sinh ngày 01 tháng 8 năm 1979 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; dân tộc: Tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 05/12; con ông Nông Văn C, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; có vợ là Nguyễn Thị K, sinh năm 1984 và có 01 người con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Quyết định số 374/QĐ-XPHC ngày 18/10/2005 Công an huyện L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt cảnh cáo về hành vi Vận chuyển hàng nhập lậu; bị cáo bị bắt để tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2020 đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 10 phút, ngày 09/8/2020 tại khu vực trước cửa hiệu thuốc số X, đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, tổ công tác Công an thành phố L đã phát hiện, bắt quả tang Nông Văn L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần bên trái, phía trước đang mặc của Nông Văn L 01 gói giấy màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng được bọc trong 01 mảnh giấy ăn màu trắng, Nông Văn L khai nhận là chất ma túy Heroine. Ngoài ra còn thu giữ 1.452.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen, biển kiểm soát 12L1 - 222.14; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh; 01 túi vải màu xanh có dây đeo chéo; 01 ví giả da màu nâu có in chữ “Huy Tuyên”; 01 thẻ “Đội lái xe chuyên trách”; 01 giấy thông hành số 1613626; 01 chứng minh nhân dân số 081054330; 01 giấy phép lái xe số 200098200168 đều mang tên Nông Văn L.
Tại kết luận giám định số 236/KL-PC09 ngày 10/8/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroine, có khối lượng 0,128 gam (đã trừ bì).
Tại kết luận giám định số 297/KL-PC09 ngày 19/8/2020 của Phòng Kỹ thuật hinh sự Công an tỉnh Lạng Sơn, kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam gồm 1.452.000 đồng trong gói niêm phong gửi giám định đều là tiền thật.
Tại cơ quan điều tra, Nông Văn L khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 09/8/2020, Nông Văn L một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 12L1 - 222.14 đến khu vực cổng B tỉnh Lạng Sơn tại đường L, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn để tìm mua chất ma túy. Nông Văn L gặp một nam thanh niên (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ), qua nói chuyện, Nông Văn L biết người này có thể mua hộ ma túy Heroine cho Nông Văn L, nên Nông Văn L đưa cho nam thanh niên 200.000 đồng nhờ mua chất ma túy, người này đồng ý và bảo Nông Văn L điều khiển xe mô tô chở đến khu vực chợ đêm K, đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn và đứng đợi. Khoảng 30 phút sau, nam thanh niên quay lại ngồi lên phía sau xe, đút gói ma túy vào túi quần bên trái phía trước Nông Văn L đang mặc rồi bảo điều khiển xe chở đến khu vực gốc đa P, đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn mua bơm kim tiêm để sử dụng ma túy. Đến trước quầy thuốc số X, Nông Văn L ngồi trên xe chờ nam thanh niên xuống mua bơm kim tiêm thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Tại cáo trạng số 160/CT-VKS ngày 05 tháng 10 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn để xét xử đối với bị cáo Nông Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Tại phần tranh luận: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn luận tội bị cáo Nông Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nông Văn L từ 15 đến 18 tháng tù. Về hình phạt bổ sung, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, do bị cáo không có tài sản riêng. Về vật chứng, áp dụng khoản 2, 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự, đề nghị: Tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật là chất ma túy sau giám định; 01 mảnh giấy ăn màu trắng, kích thức 10x17cm; trả lại cho bị cáo Nông Văn L gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen, biển kiểm soát 12L1-222.14; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh; 01 túi vải màu xanh có dây đeo chéo; 01 ví giả da màu nâu có in chữ “Huy Tuyên”; 01 thẻ “Đội lái xe chuyên trách”, 01 giấy thông hành số H1613626; 01 chứng minh nhân dân số 081054330, 01 giấy phép lái xe số 200098200136 đều mang tên Nông Văn L; 01 phong bì niêm phong số tiền 1.452.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đã được tống đạt các văn bản quyết định tố tụng và thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đều có giá trị pháp lý. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng mà mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 01 năm đến 05 năm tù. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn giải quyết, xét xử sơ thẩm.
Về nội dung vụ án: Hồi 11 giờ 10 phút ngày 09/8/2020, tại khu vực trước cửa hiệu thuốc số X, đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, tổ công tác Công an thành phố L đã phát hiện, bắt quả tang Nông Văn L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần bên trái, phía trước đang mặc của Nông Văn L 01 gói giấy màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng được bọc trong 01 mảnh giấy ăn màu trắng. Tại kết luận giám định số 236/KL-PC09 ngày 10/8/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroine, có khối lượng 0,128 gam. Như vậy đã đủ cơ sở kết luận bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vì đây là chất mà Nhà nước cấm mua, bán, tàng trữ, sử dụng và với khối lượng chất ma túy Heroine trong khoảng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam thì người lưu giữ chất ma túy phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Nhận thấy cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến an ninh trật tự xã hội và quyền quản lý tân dược của Nhà nước, gieo rắc những tệ nạn xấu trong xã hội. Do đó cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét về tình tiết tăng nặng: Không có.
Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Tại Quyết định số 374/QĐ-XPHC ngày 18/10/2005 Công an huyện L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt cảnh cáo về hành vi Vận chuyển hàng nhập lậu (đã được xóa). Do đó, đây cũng là tình tiết để xem xét khi áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung, qua xác minh bị cáo không có tài sản riêng. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng gồm: 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật là chất ma túy sau giám định; 01 mảnh giấy ăn màu trắng, kích thức 10x17cm là chất ma túy và vật sử dụng để lưu giữ chất ma túy nên cần tịch thu để tiêu hủy; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen, biển kiểm soát 12L1-222.14; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh; 01 túi vải màu xanh có dây đeo chéo; 01 ví giả da màu nâu có in chữ “Huy Tuyên”; 01 thẻ “Đội lái xe chuyên trách”, 01 giấy thông hành số 1613626; 01 chứng minh nhân dân số 081054330, 01 giấy phép lái xe số 200098200168 đều mang tên Nông Văn L; 01 phong bì niêm phong số tiền 1.452.000 đồng không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Đối với nam thanh niên mua hộ chất ma túy cho Nông Văn L, do Nông Văn L không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, làm rõ được để xử lý.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát luận tội bị cáo và đề nghị giải quyết toàn bộ nội dung vụ án là đúng pháp luật, phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 61; Điều 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 61; Điều 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Tuyên bố bị cáo Nông Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Nông Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt để tạm giữ, tạm giam là ngày 09/8/2020.
2. Về vật chứng xử lý như sau:
- Tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật là chất ma túy sau giám định; 01 mảnh giấy ăn màu trắng, kích thức 10x17cm.
- Trả lại cho bị cáo Nông Văn L 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen, biển kiểm soát 12L1 - 222.14; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh; 01 túi vải màu xanh có dây đeo chéo; 01 ví giả da màu nâu có in chữ “Huy Tuyên”; 01 thẻ “Đội lái xe chuyên trách”; 01 giấy thông hành số 1613626; 01 chứng minh nhân dân số 081054330; 01 giấy phép lái xe số 200098200168 đều mang tên Nông Văn L và 1.452.000 đồng (một triệu bốn trăm năm mươi hai nghìn đồng) được đưng trong 01 phong bì niêm phong.
(Chi tiết các vật chứng trên được miêu tả theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/10/2020 giữa Công an thành phố L với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lạng Sơn).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Nông Văn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi
nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn;
| - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn; - Cơ quan điều tra Công an thành phố Lạng Sơn; - Cơ quan Thi hành án Hình sự Công an thành phố Lạng Sơn; - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THA Dân sự TP. Lạng Sơn (Khi án có hiệu lực pháp luật); - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lƣơng Đình Phƣơng |