vanban.org

Bản án 163/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 04/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt Nguyễn Tiến D 27( Hai mươi bảy) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền bị cáo. Xử lý vật chứng: - Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Nguyễn Tiến D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt Nguyễn Tiến D 27( Hai mươi bảy) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163/2019/HSST
Ngày 04/9/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG- THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội dồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Liên Sơn

Hội thẩm nhân dân: Ông Ninh Công Vinh

Ông Đinh Thiện Tụy

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Trường- Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Mai- Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 165/2019/HSST ngày 14/8/2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/QĐXX -ST ngày 16/8/2019, đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến D- Sinh năm 1983; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 2, ngõ 273 đường N, phường T, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Nguyễn Trung C ( đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị P; Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2013/HSST ngày 16/5/2013 của Tòa án nhân dân thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản ( Chưa thi hành phần án phí);

Tiền sự: Năm 2004 đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng;

Bắt ngày 13/5/2019; Bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội;

( Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 13/5/2019, Nguyễn Tiến D điều khiển xe máy nhãn hiệu Piagio Zip, biển kiểm soát 19D1-831.63, đến khu vực Bến xe Giáp Bát, quận Hoàng Mai, Hà Nội để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi D đến khu vực cổng ra xe bus của Bến xe Giáp Bát, D gặp và mua của một người đàn ông tên T( không biết lai lịch) 01 gói ma túy “đá” với giá 400.000đ. Sau khi mua được ma túy, D cất gói ma túy vào túi quần bò phía trước bên phải, rồi điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến trước cửa số nhà 22 Dốc Thọ Lão, phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, D bị tổ công tác Công an phường Đồng Nhân kiểm tra. D tự nguyện giao nộp gói ma túy vừa mua cho cơ quan Công an. Cơ quan Công an đã thu giữ của D gói nilon bên trong đựng tinh thể màu trắng, 01 điện thoại di động kiều dáng Iphone, 01 chứng minh thư nhân dân mang tên D, 01 xe máy Piagio Zip, biển kiểm soát 19D1-831.63.

Tại Bản kết luận giám định số 3048/KLGĐ-PC09 ngày 21/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng, bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,931gam.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho D, D khai không biết nhân thân, địa chỉ, nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone: D khai là tài sản cá nhân, không dùng để liên lạc mua ma túy.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu nhãn hiệu Piagio Zip, biển kiểm soát 19D1-831.63: D khai mượn của bạn tên Tr ( không biết rõ họ tên, địa chỉ). Cơ quan điều tra đã xác định đăng ký xe đứng tên anh Nguyễn Đức H. Anh H khai đã bán xe máy vào năm 2018 cho một người phụ nữ tên Tr, nhưng anh cũng không biết địa chỉ của Tr. Cơ quan điều tra đã quyết định tách tài liệu về chiếc xe máy để xử lý sau.

Tại Bản cáo trạng số 166/CT/VKS-HBT ngày 12/8/2019, VKSND quận Hai Bà Trưng đã truy tố Nguyễn Tiến D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng căn cứ lời khai thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như trong quá trình điều tra, xác định bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Tiến D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h( tái phạm) khoản 1 Điều 52, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Xử phạt: Nguyễn Tiến D từ 30 đến 36 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền bị cáo;

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,931gam ma túy loại Methamphetamine.

Trả lại Nguyễn Tiến D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone+ 01 Chứng minh nhân dân mang tên D.

Bị cáo Nguyễn Tiến D công nhận nội dung bản cáo trạng, lời luận tội của Viện kiểm sát là đúng hành vi bị cáo thực hiện. Bị cáo xác nhận có tội, không tranh luận gì với đại diện viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa; Căn cứ Bản kết luận giám định số 3048/KLGĐ-PC09 ngày 21/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội; Căn cứ biên bản bắt người phạm tội quả tang. Hội đồng xét xử có cơ sở để kết luận: Ngày 13/5/2019, bị cáo Nguyễn Tiến D đã có hành vi cất giữ trái phép 0,931gam ma túy loại Methamphetamine trong người, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Bị cáo đang đi tìm nơi sử dụng ma túy, đến trước cửa số nhà 22 Dốc Thọ Lão, phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, thì bị tổ công tác Công an phường Đồng Nhân kiểm tra bắt quả tang, thu giữ ma túy.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma tuý là chất độc dược huỷ hoại sức khoẻ con người và gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác. Nhà nước đang dùng mọi biên pháp để ngăn chặn tệ nạn ma túy. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật cấm, nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi. Hành vi của bị cáo xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét thấy, nhân thân bị cáo đã có một tiền án chưa được xóa. Nếu để bị cáo cải tạo ngoài xã hội sẽ làm mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần thiết phải xử phạt bị cáo mức án tù có thời hạn để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm về ma túy.

Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng đề nghị xét xử bị cáo với tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Nhân thân bị cáo có tiền án là Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2013/HSST ngày 16/5/2013 của Tòa án nhân dân thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bản án này bị cáo đã chấp hành xong phần hình phạt tù, nhưng chưa chấp hành xong phần quyết định về án phí. Căn cứ khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự: Bị cáo chưa được xóa án tính. Phạm tội lần này thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự “ Tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Xử lý vật chứng: 0,931gam ma túy loại Methamphetamine thu giữ của bị cáo là chất gây nghiện bị cấm lưu hành. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone5, thu giữ của bị cáo: Quá trình điều tra xác định D sử dụng để liên lạc cá nhân, không liên quan đến tội phạm, nên trả lại cho D, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ; khoản 1, mục I phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ; khoản 1, mục I phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Xử phạt Nguyễn Tiến D 27( Hai mươi bảy) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 13/5/2019.

Hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền bị cáo.

Xử lý vật chứng: - Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Nguyễn Tiến D.

- Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone5,số Imei: 990002780075923, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại bị cáo 01 Chứng minh thư nhân dân số 012140087 mang tên Nguyễn Tiến D.

(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 09/8/2019).

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tiến D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ