- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thanh P - C"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! ──────────── Bản án số: 1628/2018/HNGĐ-ST! Ngày: 15-11-2018 Về việc tranh chấp ly hôn |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa:" Ông Nguyễn Văn Tuấn.
Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"
Bà Đặng Thị Huệ Tú.
Ông Nguyễn Tùng.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Hồ Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Bà Đào Thị Xuân Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 188/2017/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 4759/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 th áng 10 năm 2018; Giữa các đương sự:
-" Nguyên" đơn:" Ông Nguyễn! Thanh! P, sinh năm 1967; địa chỉ: Số X đường D, Khu phố K, phường P, quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt).""
-"Bị"đơn:"Bà C, sinh năm 1959; quốc tịch: Hoa Kỳ; địa chỉ: Hoa Kỳ."(Vắng mặt)."
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Tại"đơn"khởi"kiện"và"các"bản"tự"khai,"nguyên"đơn"ông"Nguyễn"Thanh"P" trình"bày:"
Ông và bà C tự nguyện kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số X1 quyển số X2 ngày 15 tháng 8 năm 2012 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Ngay từ sau thời điểm đăng ký kết hôn, vợ chồng ông sinh sống mỗi người một nơi; bà C không đồng ý làm thủ tục bảo lãnh ông sang Hoa Kỳ sinh sống mà chỉ mỗi năm về Việt Nam khoảng hai lần. Do không thường xuyên chung sống nên giữa hai người phát sinh rất nhiều vấn đề do thiếu sự tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau. Từ năm 2015, ông không còn liên lạc với bà C. Nhận thấy không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc như hiện tại, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn bà C. Về con chung: Ông và bà C không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với bị đơn bà C: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo thời gian và địa điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án thông qua thủ tục ủy thác tư pháp đến Cơ quan có thẩm quyền của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, theo địa chỉ của bị đơn do nguyên đơn cung cấp. Đồng thời, yêu cầu bà C có văn bản gửi Tòa án trình bày ý kiến về việc ông Nguyễn Thanh P khởi kiện yêu cầu ly hôn (theo Công văn ủy thác tư pháp số 418/UTTPDS-TA30 ngày 08 tháng 9 năm 2017). Đến ngày mở phiên tòa, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không nhận được bản tự khai, tài liệu, chứng cứ của bị đơn và bị đơn vắng mặt, không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Để đảm bảo việc xét xử theo đúng thời hạn luật định và bảo đảm quyền lợi của đương sự khác, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự trong việc giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm có nêu: Thẩm phán, các thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm, các đương sự trong vụ án đã thực hiện đầy đủ quy định pháp luật về tố tụng dân sự; quan hệ tranh chấp của vụ án đã được xác định đúng, chứng cứ được thu thập hợp lệ; vụ án có yếu tố nước ngoài Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền; thủ tục ủy thác tư pháp đã được tiến hành hợp lệ. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa và không có ý kiến phản hồi nên Tòa án giải quyết vụ án theo luật định. Đề xuất về đường lối giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: Theo trình bày của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P thì thực tế hai người không thường xuyên chung sống, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc do vợ chồng không tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau, vợ chồng không còn liên hệ từ năm 2015 đến nay thể hiện cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung, tài sản chung và nợ chung nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra chứng cứ công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, Bản sao trích lục kết hôn; căn cứ lời trình bày của nguyên đơn tại bản tự khai, có cơ sở để xác định đây là vụ án tranh chấp về ly hôn. Bị đơn trong vụ án là bà C quốc tịch Hoa Kỳ, hiện đang cư trú tại Hoa Kỳ; nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Điểm c Khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, nguyên đơn đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn bà C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về thời gian và địa điểm mở phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lí do. Xét, yêu cầu và ý kiến của nguyên đơn đã được thể hiện rõ trong bản khai, sự vắng mặt của các bên đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 và 3 Điều 228, Khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn; Giấy chứng nhận kết hôn số X1 quyển số X2 ngày 15 tháng 8 năm 2012 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp, có cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Thanh P và bà C được xác lập trên cơ sở tự nguyện và được pháp luật Việt Nam thừa nhận.
Theo trình bày của nguyên đơn thì ngay từ sau thời điểm đăng ký kết hôn ông Nguyễn Thanh P và bà C không thường xuyên chung sống, mỗi người sinh sống ở một nơi. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc do hai người không thực sự tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau; vợ chồng không còn liên hệ từ năm 2015 đến nay. Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn bà C.
Xét thấy, cuộc sống xa cách giữa vợ chồng ông Nguyễn Thanh P và bà C dẫn đến việc cả hai không tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau, điều này thể hiện mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn liên hệ nên không còn khả năng hàn gắn, đoàn tụ. Bị đơn bà C đã được thông báo về việc ông Nguyễn Thanh P khởi kiện ly hôn nhưng không có ý kiến phản hồi là đã không còn ý định hòa giải và tiếp tục quan hệ hôn nhân với ông P. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy có cơ sở để giải quyết cho ông Nguyễn Thanh P được ly hôn với bà C như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa. [3] Về con chung: Nguyên đơn trình bày giữa ông và bà C không có con chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. [4] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. [5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT!ĐỊNH:!
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Điểm c Khoản 1 Điều 40, Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 và 3 Điều 228, Khoản 5 Điều 477, Khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Khoản 1 Điều 56, Điều 121 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự. I. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P: 1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh P được ly hôn với bà C. Giấy chứng nhận kết hôn số X1 quyển số X2 ngày 15 tháng 8 năm 2012 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị pháp lý. 2. Về con chung: Nguyên đơn trình bày không có, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. II. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đương sự đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0034470 ngày 18 tháng 4 năm 2017 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, đương sự đã thi hành xong án phí sơ thẩm. III. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P có quyền kháng cáo để được xem xét lại vụ án theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; bị đơn bà C cư trú ở nước ngoài không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để được xem xét lại vụ án theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án, quyết định được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: ! - TAND tối cao; - TAND cấp cao tại Tp. HCM; - VKSND cấp cao tại Tp. HCM - VKSND Tp. HCM; - Cục THADS Tp. HCM; - UBND Tp. HCM; - Các đương sự; - Lưu: VP, HS. | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! Nguyễn!Văn!Tuấn |