vanban.org

Bản án 162/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ:

Buộc ông Lâm T và bà Sơn Thị D có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn dư nợ tính đến ngày 28/4/2026 với tổng số tiền là 397.957.879 đồng (Ba trăm chín mươi bảy triệu chín trăm năm mươi bảy nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng), bao gồm nợ gốc 280.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm tám mươi triệu đồng); Lãi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng B - Sơn Thị D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ:
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 162/2026/DS - ST.
Ngày: 28 - 4 - 2026.
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hòa;

2. Ông Trần Hoàng Việt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Qual – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 284/2025/TLST – DS, ngày 14 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 361/2026/QĐXXST- DS, ngày 20 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (Gọi tắt là Ngân hàng); địa chỉ: T B, số A T, phường L, quận H, Thành Phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Duy M - Chức vụ: Phó Giám đốc Phụ trách kinh doanh phòng G là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn "Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 303/BIDV.ST-QLRR ngày 04/11/2025" (Có mặt).

- Bị đơn: Bà Sơn Thị D, sinh năm 1964 và ông Lâm T, sinh năm 1960; cùng địa chỉ: Ấp B, xã L, thành phố Cần Thơ (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Sơn H, sinh năm 1966 và bà Kim Thị Hồng V; cùng địa chỉ: Ấp B, xã L, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 04/11/2025 cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ là ông Trần Duy M trình bày: Vào năm 2021, bà Sơn Thị D có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng tín dụng vay vốn, cụ thể như sau: Hợp đồng tín dụng số: 372/2021/14675163/HĐTD ngày 13/12/2021, số tiền vay là: 320.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm hai mươi triệu đồng); Mục đích vay: Sản xuất nông nghiệp (trồng lúa và chăn nuôi); Lãi suất vay: 10%/năm, lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất vay. Thời hạn vay là: 11 tháng, ngày đến hạn cuối cùng của khoảng vay là ngày 13/11/2022. Trong quá trình vay vốn bà D không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo cam kết, khoản vay quá hạn trả nợ gốc từ ngày 14/11/2022.

Tài sản thế chấp đảm bảo nợ vay: Hợp đồng thế chấp bất động sản số: 361/2018/11884704/HĐBĐ ngày 06/12/2018 được ký kết giữa Ngân hàng với bên thế chấp là bà Sơn Thị D và ông Lâm T, tài sản thế chấp gồm:

+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa 100, tờ bản đồ số 38; tọa lạc tại: Ấp B, xã L, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 590750 (Số vào sổ cấp GCN: CH02643) do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng (cũ) cấp ngày 04/8/2015.

+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa 1231, tờ bản đồ số 08; tọa lạc tại: Ấp B, xã L, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sốBN 705009 (Số vào sổ cấp GCN: CH001178) do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng (cũ) cấp ngày 19/4/2013.

Hiện nợ vay đã quá hạn trả nợ gốc theo hợp đồng tín dụng đã ký, Ngân hàng đã yêu cầu bà Sơn Thị D thực hiện việc thanh toán gốc và lãi còn nợ của khoản vay nhưng bà D vẫn không thực hiện.

Tổng số tiền bà D còn nợ Ngân hàng tạm tính đến ngày 28/4/2026 là 380.307.476 đồng (Ba trăm tám mươi triệu ba trăm lẻ bảy nghìn bốn trăm bảy mươi sáu đồng), bao gồm nợ gốc 286.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm tám mươi sáu triệu đồng); Lãi trong hạn: 43.775.342 đồng (Bốn mươi ba triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng); Lãi quá hạn: 43.884.908 đồng (Bốn mươi ba triệu tám trăm tám mươi bốn nghìn chín trăm lẻ tám đồng); Lãi chậm trả là 6.647.226 đồng (Sáu triệu sáu trăm bốn mươi bảy nghìn hai trăm hai mươi sáu đồng).

Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:

+ Buộc bà Sơn Thị D có trách nhiệm trả đủ một lần cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 28/4/2026 là 397.957.879 đồng (Ba trăm chín mươi bảy triệu chín trăm năm mươi bảy nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng), bao gồm nợ gốc 280.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm tám mươi triệu đồng); Lãi trong hạn: 57.775.342 đồng (Bốn mươi ba triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng); Lãi quá hạn: 50.928.450 đồng (Năm mươi triệu chín trăm hai mươi tám nghìn bốn trăm năm mươi đồng); L chậm trả là 9.166.963 đồng (Chín triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn chín trăm sáu mươi ba đồng) và cộng phần lãi vay phát sinh them kể từ ngày 29/4/2026 với mức lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi bà D hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.

+ Trường hợp bà Sơn Thị D không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp đã ký kết để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

- Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà bị đơn ông Lâm T và bà Sơn Thị D trình bày: Thống nhất với phần trình bày của người đại diện hợp pháp của Ngân hàng về toàn bộ nội dung của hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tải sản mà ông Lâm T và bà Sơn Thị D đã ký kết với Ngân hàng nên không trình bày gì thêm. Ông, bà thừa nhận đã được Ngân hàng giải ngân toàn bộ số tiền vay gốc của khoản vay đã ký kết với Ngân hàng. Thống nhất số nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 28/4/2026 là 380.307.476 đồng (Ba trăm tám mươi triệu ba trăm lẻ bảy nghìn bốn trăm bảy mươi sáu đồng), bao gồm nợ gốc 286.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm tám mươi sáu triệu đồng); Lãi trong hạn: 43.775.342 đồng (Bốn mươi ba triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng); Lãi quá hạn: 43.884.908 đồng (Bốn mươi ba triệu tám trăm tám mươi bốn nghìn chín trăm lẻ tám đồng); Lãi chậm trả là 6.647.226 đồng (Sáu triệu sáu trăm bốn mươi bảy nghìn hai trăm hai mươi sáu đồng). Đây là khoản nợ nêu là nợ chung của ông, bà vay dùng vào việc phục vụ chi tiêu, sinh hoạt đời sống gia đình nên ông Lâm T và bà Sơn Thị D đồng ý có trách nhiệm trả cho Ngân hàng. Tuy nhiên, hiện nay hoàn cảnh kinh tế gia đình đang gặp khó khăn nên xin được trả trước số tiền là 100.000.000 đồng trong thời hạn hai tháng, số nợ còn lại sẽ trả đến tháng 12/2026 là dứt điểm. Trường hợp không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì ông, bà thống nhất để nguyên đơn thưc hiện thủ tục yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng thế chấp tài sản mà ông, bà đã ký kết với Ngân hàng để đảm bảo khoản vay, cụ thể là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa 100, tờ bản đồ số 38; tọa lạc tại: Ấp B, xã L, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 590750 (Số vào sổ cấp GCN: CH02643) do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng (cũ) cấp ngày 04/8/2015 và Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa 1231, tờ bản đồ số 08; tọa lạc tại: Ấp B, xã L, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sốBN 705009 (Số vào sổ cấp GCN: CH001178) do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng (cũ) cấp ngày 19/4/2013.

- Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Sơn H và bà Kim Thị Hồng V: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông Sơn H và bà Kim Thị Hồng V, nhưng ông Sơn H và bà Kim Thị Hồng V không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Sơn H và bà Kim Thị Hồng V để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Sơn H và bà Kim Thị Hồng V vẫn vắng mặt không lý do. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Sơn H và bà Kim Thị Hồng V để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng ông Sơn H và bà Kim Thị Hồng V vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 122, Điều 129, Điều 131, Điều 280, Điều 299, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 6, khoản 4 Điều 12, Điều 167 của Luật đất đai năm 2013; Điều 27 và Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2, khoản 6 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 này 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự. Giải quyết theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thanh toán nợ gốc, tiền lãi phát sinh chưa thanh toán cho nguyên đơn theo hợp đồng tín dụng đã ký kết và giao tài sản thế chấp bảo đảm cho nguyên đơn để xử lý thu hồi nợ theo hợp đồng thế chấp tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại: Ấp B, xã L, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về thủ tục tố tụng: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Sơn H và bà Kim Thị Hồng V, nhưng ông H và bà V không có ý kiến phản đối gì hay yêu cầu độc lập trong vụ án. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông ông H và bà V để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H và bà V vẫn vắng mặt không lý do. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông H và bà V để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng ông H và bà V vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông H và bà V.

. Xét yêu cầu của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Để chứng minh cho yêu cầu của mình nguyên đơn cung cấp cho Tòa án chứng cứ là Hợp đồng tín dụng số 372/2021/14675463/HĐTD ngày 13/12/2021, số tiền vay là 320.000.000 đồng, mục đích vay sản xuất nông nghiệp, lãi suất vay 10%/năm, thời hạn vay 11 tháng kể từ ngày 13/11/2022. Các hợp đồng và giấy nhận nợ nêu trên đều có chữ viết, chữ ký của bà Sơn Thị D và sự thống nhất thừa nhận của ông Lâm T là khoản vay chung của vợ chồng. Tại biên bản ghi lời khai ngày 04/12/2025 bà Sơn Thị D và ông Lâm T thừa nhận có nợ Ngân hàng số tiền vay gốc và lãi suất như tình bày của nguyên đơn, tuy nhiên do hoàn cảnh khó khăn nên xin xin được trả trước số tiền là 100.000.000 đồng trong thời hạn hai tháng, số nợ còn lại sẽ trả đến tháng 12/2026 là dứt điểm. Việc ông Lâm T và bà Sơn Thị D không thực hiện nghĩa vụ trả tiếp dư nợ gốc và lãi theo giao kết trong hợp đồng đã vi phạm các mục số 1.5.1 và 1.5.2 của Hợp đồng tín dụng và mục 7 của đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ, vi phạm các điều khoản chung mà các bên đã ký kết, là người có lỗi nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết của hợp đồng và quy định của pháp luật. Do đó, có đủ cơ sở xác định bà Sơn Thị D và ông Lâm T có vay của Ngân hàng số tiền vay gốc và lãi suất như trình bày của nguyên đơn và hiện còn nợ Ngân hàng số tiền gốc, lãi theo yêu cầu khởi kiện tính đến ngày 28/4/2026 là 397.957.879 đồng (Ba trăm chín mươi bảy triệu chín trăm năm mươi bảy nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng), bao gồm nợ gốc 280.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm tám mươi triệu đồng); Lãi trong hạn: 57.775.342 đồng (Bốn mươi ba triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng); Lãi quá hạn: 50.928.450 đồng (Năm mươi triệu chín trăm hai mươi tám nghìn bốn trăm năm mươi đồng); L chậm trả là 9.166.963 đồng (Chín triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn chín trăm sáu mươi ba đồng). Xét các khoản lãi suất và mức lãi suất các bên thỏa thuận là phù hợp quy định pháp luật 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi bổ sung), Điều 280, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27 và Đều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên yêu cầu của nguyên đơn về gốc và lãi nêu trên là có cơ sở chấp nhận.

. Từ những phân tích nêu trên, ông Lâm T và bà Sơn Thị D có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn dư nợ tính đến ngày 28/4/2026 là 397.957.879 đồng (Ba trăm chín mươi bảy triệu chín trăm năm mươi bảy nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng), bao gồm nợ gốc 280.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm tám mươi triệu đồng); Lãi trong hạn: 57.775.342 đồng (Bốn mươi ba triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng); Lãi quá hạn: 50.928.450 đồng (Năm mươi triệu chín trăm hai mươi tám nghìn bốn trăm năm mươi đồng); L chậm trả là 9.166.963 đồng (Chín triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn chín trăm sáu mươi ba đồng). Kể từ ngày 29/4/2026 ông Lâm T và bà Sơn Thị D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán của khoản vay, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Lâm T và bà Sơn Thị D phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, Hội đồng xét xử thấy rằng: Để chứng minh cho yêu cầu của mình nguyên đơn cung cấp cho Tòa án hợp đồng thế chấp bất động sản số 361/2018/11884704/HĐBĐ ngày 06/12/2018, bà Sơn Thị D và ông Lâm Tư thế C cho Ngân hàng:

- Quyền sử dụng đất thửa số 100, tờ bản đồ số 38, tại ấp Ấ, xã L, thành phố Cần Thơ; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 590750. Số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH02643 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng (cũ cấp ngày 04/8/2015 cho bà Sơn Thị D và ông Lâm Tư .

- Quyền sử dụng đất thửa số 1231, tờ bản đồ số 08, tại ấp Ấ, xã L, thành phố Cần Thơ; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 705009. Số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH001178 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng (cũ) cấp ngày 19/4/2013 cho bà Sơn Thị D và ông Lâm Tư .

Hợp đồng thế chấp có chữ ký của ông Lâm T và bà Sơn Thị D, được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 06/12/2018, đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L, tỉnh sóc Trăng (cũ) ngày 10/12/2018.

. Xét thấy, về hình thức, nội dung các văn bản này là phù hợp theo quy định pháp luật. Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án khi Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thì hiện trạng quyền sử dụng đất thửa số 100 và thửa số 1231 nêu trên không có thay đổi so với thời điểm thế chấp; tại thời điểm thẩm định thửa số 100 do ông Lâm T và bà Sơn Thị D đang quản lý sử dụng; thửa số 1231 do ông Sơn H và bà Kim Thị Hồng V đang quản lý, sử dụng một phần và ông Lâm T và bà Sơn Thị D quản lý, sử dụng một phần. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Sơn H và bà Kim Thị Hồng V không có ý kiến phản đối hay yêu cầu độc lập gì đối với tài sản thế chấp; bị đơn ông Lâm T và bà Sơn Thị D cũng không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Như vậy, hợp đồng thế chấp đảm bảo điều kiện về nội dung, hình thức, người thế chấp đủ điều kiện thế chấp, tại thời điểm thế chấp tài sản không có tranh chấp nên hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng về quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp khi bà Sơn Thị D và ông Lâm T thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ là có cơ sở chấp nhận.

. Đối với yêu cầu của bị đơn ông Lâm T và bà Sơn Thị D tại phiên tòa về việc thống nhất ông, bà sẽ cùng có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền gốc, lãi còn nợ cho nguyên đơn nhưng hiện nay do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên xin phía nguyên đơn xem xét tạo điều kiện cho ông, bà được trả trước số tiền là 100.000.000 đồng trong thời hạn hai tháng, số nợ còn lại sẽ trả đến tháng 12/2026 là dứt điểm. Tuy nhiên, tại phiên tòa phía nguyên đơn không đồng ý và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc ông Lâm T và bà Sơn Thị D có nghĩa vụ trả ngay số tiền còn nợ nên yêu cầu này không có căn cứ để Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Căn cứ vào khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn ông Lâm T và bà Sơn Thị D phải chịu 400.000 đồng, số tiền này nguyên đơn Ngân hàng đã nộp xong nên ông Lâm T và bà Sơn Thị D có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn.

. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án nhưng ông Lâm T và bà Sơn Thị D là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm .Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

. Như đã phân tích nêu trên xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 157 của ; Điều 117, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 91 và khoản 1, khoản 2 Điều 95 của (Luật số 47/2010/QH12 ngày 16/10/2010 của Quốc Hội); Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Khoản 2, khoản 3 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Điều 27 và Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2, khoản 6 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 này 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ:

1. Buộc ông Lâm T và bà Sơn Thị D có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn dư nợ tính đến ngày 28/4/2026 với tổng số tiền là 397.957.879 đồng (Ba trăm chín mươi bảy triệu chín trăm năm mươi bảy nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng), bao gồm nợ gốc 280.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm tám mươi triệu đồng); Lãi trong hạn: 57.775.342 đồng (Bốn mươi ba triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng); Lãi quá hạn: 50.928.450 đồng (Năm mươi triệu chín trăm hai mươi tám nghìn bốn trăm năm mươi đồng); L chậm trả là 9.166.963 đồng (Chín triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn chín trăm sáu mươi ba đồng). Kể từ ngày 29/4/2026 ông Lâm T và bà Sơn Thị D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán của khoản vay, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Lâm T và bà Sơn Thị D phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Trường hợp bị đơn ông Lâm T và bà Sơn Thị D không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo theo hợp đồng thế chấp bất động sản số 361/2018/11884704/HĐBĐ ngày 06/12/2018 là:

- Quyền sử dụng đất thửa số 100, tờ bản đồ số 38; tọa lạc tại ấp B, xã L, thành phố Cần Thơ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 590750; số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH02643 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng (cũ cấp ngày 04/8/2015 cho bà Sơn Thị D và ông Lâm Tư .

- Quyền sử dụng đất thửa số 1231, tờ bản đồ số 08; tọa lạc tại ấp B, xã L, thành phố Cần Thơ; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 705009. Số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH001178 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng (cũ) cấp ngày 19/4/2013 cho bà Sơn Thị D và ông Lâm Tư .

3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bị đơn bị đơn ông Lâm T và bà Sơn Thị D phải chịu 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng), số tiền này nguyên đơn đã nộp xong nên ông Lâm T và bà Sơn Thị D có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.

4. Về án phí: Nguyên đơn ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền tạm ứng phí đã nộp là 8.946.125 đồng (Tám triệu chín trăm bốn mươi sáu nghìn một trăm hai mươi lăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009306, ngày 10/11/2025 của Thi hành án dân sự Khu vực 9 – Thành phố Cần Thơ. Bị đơn ông Lâm T và bà Sơn Thị D được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ