vanban.org

Bản án 162/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/05/2025 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Minh Q và bà Nguyễn Thị Thùy T thuận tình ly hôn.

Về con chung: Không có Về tài sản chung: Không có Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Minh Quân - Nguyễn Thị Thùy Trang"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Minh Q và bà Nguyễn Thị Thùy T thuận tình ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 162/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 09/5/2025
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Thanh Mai

2/ Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 09 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2025/TLST-HNGĐ ngày 04/02/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2473/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đỗ Minh Q, sinh năm 1994

Địa chỉ: 680/70/9 C, Phường M, quận T, Thành phố H

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1992

Địa chỉ: 6039 4 Ave NE T2A3Y2, Calgary, Alberta, Canada.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn (để nhận giấy tờ liên quan đến vụ án, bản án, quyết định của Tòa án): Bà Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 1965. Địa chỉ: 379/41 Quang Trung, Phường N, quận G, Thành phố H (theo giấy ủy quyền số chứng thực 66.3/2025 quyển số 01-SCTCK được Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Vancouver, Canada chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự ngày 26/3/2025).

(Các đương sự vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Đỗ Minh Q trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Thùy T kết hôn năm 2022, theo giấy chứng nhận kết hôn số 06 do Ủy ban nhân dân Phường 10, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/01/2022.

Sau khi kết hôn, hai bên chung sống với nhau được khoảng 01 năm, cuộc sống chung hạnh phúc bình thường, đến năm 2023 bà T sang Canada sinh sống và làm việc theo diện định cư, vì nhiều lý do khách quan nên hai bên không thể sang Canada cùng lúc mà bà T đi trước còn ông ở lại Việt Nam tiếp tục hoàn thiện hồ sơ đi định cư, tuy nhiên hồ sơ của ông không được thông qua nên ông không thể sang Canada được. Từ đó hai bên bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung trong việc cư trú của hai vợ chồng. Mặt khác, do không chung sống với nhau nên không có nhiều thời gian quan tâm chăm sóc nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, ông nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không còn khả năng hàn gắn nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thùy T. Về con chung: Không có Về tài sản chung và nợ chung: Không có Tại bản tự khai ngày 26/3/2025 của bà Nguyễn Thị Thùy T được Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Vancouver, Canada chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự số chứng thực 64.3/2025, quyển số 01-SCTCK ngày 26/3/2025 có nội dung như sau: Bà và ông Đỗ Minh Q kết hôn năm 2022, theo giấy chứng nhận kết hôn số 06 do Ủy ban nhân dân Phường 10, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/01/2022. Về quá trình chung sống và mâu thuẫn vợ chồng bà thống nhất như trình bày của ông Đỗ Minh Q. Bà được biết ông Đỗ Minh Q đang yêu cầu ly hôn với bà tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với yêu cầu của ông Đỗ Minh Q bà có ý kiến như sau: Về quan hệ hôn nhân: Bà đồng ý ly hôn với ông Đỗ Minh Q. Về con chung: Không có. Về tài sản chung và nợ chung: Không có. Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn ông Đỗ Minh Q, bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy T đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Đỗ Minh Q đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh có đơn xin ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy T đang cư trú tại Canada, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 38; Điều 40; Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [2] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ các bên tham gia phiên tòa, nguyên đơn ông Đỗ Minh Q, bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy T đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật. Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Ông Đỗ Minh Q và bà Nguyễn Thị Thùy T có đăng ký kết hôn vào năm kết hôn năm 2022, căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 06 do Ủy ban nhân dân Phường 10, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/01/2022 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Theo ông Đỗ Minh Q và bà Nguyễn Thị Thùy T trình bày:

Sau khi kết hôn, hai bên chung sống với nhau được khoảng 01 năm, cuộc sống chung hạnh phúc bình thường, đến năm 2023 bà T sang Canada sinh sống và làm việc theo diện định cư, vì nhiều lý do khách quan nên hai bên không thể sang Canada cùng lúc mà bà T đi trước còn ông Quân ở lại Việt Nam tiếp tục hoàn thiện hồ sơ đi định cư, tuy nhiên hồ sơ của ông Quân không được thông qua nên không thể sang Canada được. Từ đó hai bên bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung trong việc cư trú của hai vợ chồng. Mặt khác, do không chung sống với nhau nên không có nhiều thời gian quan tâm chăm sóc nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, ông Đỗ Minh Q nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không còn khả năng hàn gắn nên có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thùy T để ổn định cuộc sống. Về phía bà Nguyễn Thị Thùy T có bản tự khai đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông Đỗ Minh Q.

Xét thấy, vợ chồng có quyền, nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng và cùng có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, xây dựng gia đình hạnh phúc, đây cũng là mục đích của hôn nhân. Do điều kiện khách quan nên thực tế vợ chồng ông Đỗ Minh Q, bà Nguyễn Thị Thùy T đã không còn chung sống với nhau, tình cảm phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Đỗ Minh Q xin ly hôn và bà Nguyễn Thị Thùy T đồng ý thuận tình ly hôn là có cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông Đỗ Minh Q và bà Nguyễn Thị Thùy T đều xác định không có nên không xét.

Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Ông Đỗ Minh Q và bà Nguyễn Thị Thùy T được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 38; Điều 40; Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 56 ; Điều 57; Điều 122; Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016.UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ luật Thi hành án dân sự 2008 đã sửa đổi, bổ sung năm 2014. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Minh Q.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Minh Q và bà Nguyễn Thị Thùy T thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Không có

- Về tài sản chung: Không có

- Về nợ chung: Không có. 2. Về án phí và thi hành án: Thi hành án dưới sự giám sát của Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ông Đỗ Minh Q phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông Đỗ Minh Q đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0069861 ngày 23/01/2025 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Đỗ Minh Q đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. 3. Ông Đỗ Minh Q được quyền kháng cáo trong thời hạn15 (mười lăm) ngày, bà Nguyễn Thị Thùy T được quyền kháng cáo trong hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ