- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngọc Y - Lê Tấn K"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Nghị quyết số 326/2016/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số:162/2025/HNGĐ-ST Ngày:16/9/2025 Về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thanh Toàn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Đoạt.
2. Bà Phạm Hồng Gái.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh An Giang
Trong ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 49/2025/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2025 về việc: “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2025; quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 29 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
N đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Tổ x, ấp H, xã M, tỉnh An Giang
Bị đơn: Anh Lê Tấn K, sinh năm 1978 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ X, ấp H, xã M, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa N đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Y trình bày.
Chị Nguyễn Thị Ngọc Y và anh Lê Tấn K lấy nhau là do yêu thương nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh An Giang. Trong quá trình chung sống chị Y và anh K có với nhau 01 người con chung là Lê Ngọc Thảo N. Trong cuộc sống chị Y và anh K có xảy ra mâu thuẫn bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn kéo dài, vợ chồng thường hay cự cãi xô sát... từ đó dẫn đến hai vợ chồng không còn sống chung và chính thức ly thân. Từ khi ly thân đến nay vợ chồng không còn quan tâm và chăm sóc nhau. Nay chị Nguyễn Thị Ngọc Y thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn và sống chung với nhau được nữa nên chị Nguyễn Thị Ngọc Y yêu cầu được ly hôn với anh Lê Tấn K.
Về quan hệ con chung có 01 con chung: Cháu Lê Ngọc Thảo N, sinh ngày 08 tháng 6 năm 2010. Hiện nay các con đang ở với chị Y, chị Y yêu cầu được tiếp tục nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y không yêu cầu.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ và cho vay nợ: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y trình bày vợ, chồng không nợ ai cũng không cho ai vay nợ vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra chị Nguyễn Thị Ngọc Y không trình bày gì thêm.
Bị đơn: Anh Lê Tấn K vắng mặt tại phiên Tòa: Trong quá trình tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa của tòa án nhưng anh Lê Tấn K đều vắng mặt nên không có lời khai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Toà, Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử nhận định vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, căn cứ vào Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, đây thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh An Giang.
- Mặc dù Tòa án đã tống đạt các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng anh Lê Tấn K vẫn vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Lê Tấn K theo quy định Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng quy định của pháp luật.
Xét về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y và anh Lê Tấn K lấy nhau là do tự tìm hiểu và yêu thương nhau, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Thuận, tỉnh An Giang đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận, nhưng trong quá trình chung sống thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và đã chính thức đã ly thân nhau, từ khi vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ly thân nhau thì cuộc sống chung của vợ chồng không còn quan tâm và chăm sóc nhau, hơn nữa tại phiên Tòa hôm nay chị Nguyễn Thị Ngọc Y trình bày chị không còn yêu thương và không thể hàn gắn và sống chung với anh Lê Tấn K được nữa, nên chị Nguyễn Thị Ngọc Y yêu cầu được ly hôn với anh Lê Tấn K.
Tòa án cũng đã triệu tập anh Lê Tấn K nhiều lần đến tòa án làm việc, nhưng anh K vẫn vắng mặt không lý do và không có yêu cầu gì. Như vậy anh K đã từ bỏ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Ngọc Y và anh Lê Tấn K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn, không thể hàn gắn và sống chung với nhau được nữa, nên căn cứ vào Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc Y.
Xét về con chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y và anh Lê Tấn K có 01 con chung cháu Lê Ngọc Thảo N, sinh ngày 03 tháng 4 năm 20, hiện nay chị Nguyễn Thị Ngọc Y đang chăm sóc nuôi dưỡng. Nay chị Nguyễn Thị Ngọc Y yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Xét thấy từ khi chị Nguyễn Thị Ngọc Y và anh Lê Tấn K ly thân nhau chị Nguyễn Thị Ngọc Y là người trực tiếp nuôi con cho đến nay, hơn nữa việc nuôi con của chị Nguyễn Thị Ngọc Y, anh Lê Tấn K cũng không có ý kiến gì và xét theo nguyện vọng của cháu Lê Thị Thảo N xin được ở với chị Nguyễn Thị Ngọc Y. Vì vậy để đảm bảo cuộc sống của cháu N nên chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ngọc Y, giao cháu Lê Ngọc Thảo N cho chị Nguyễn Thị Ngọc Y tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng việc nuôi con: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
Xét về quan hệ tài sản chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.
Về nợ và cho vay nợ: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y trình bày vợ chồng không nợ ai cũng không cho ai vay nợ vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị Ngọc Y phải chịu án phí là Hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng các Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Áp dụng: Nghị quyết số 326/2016/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Y yêu cầu được ly hôn với anh Lê Tấn K.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y được ly hôn với anh Lê Tấn K.
2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Lê Ngọc Thảo N cho chị Nguyễn Thị Ngọc Y tiếp tục nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng việc nuôi con: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y không yêu cầu cấp dưỡng việc nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về quyền thăm nom chăm sóc con chung: Anh Lê Tấn K có quyền thăm nom chăm sóc giáo dục con chung, chị Nguyễn Thị Ngọc Y cũng như những người khác không ai được quyền cấm cản.
3. Về quan hệ tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ và cho vay nợ: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
5. Về án phí Hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Ngọc Y phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí, nhưng được đối trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị Nguyễn Thị Ngọc Y đã nộp tại thi hành án dân sự tỉnh An Giang theo biên lai thu số 0000097 ngày 29 tháng 7 năm 2025 số tiền theo biên lai là 300.000 đồng. Như vậy chị Nguyễn Thị Ngọc Y đã nộp xong án phí.
Án xử công khai có mặt N đơn, báo cho N đơn biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Riêng anh Lê Tấn K vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhậnh được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh An Giang - VKSND Khu vực 4, tỉnh An Giang - UBND xã M, tỉnh An Giang. - Sở tư pháp, tỉnh An Giang. - Đương sự. - Lưu hồ sơ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thanh Toàn |