vanban.org

Bản án 162/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 02/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Triệu Văn Th 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19-5-2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Văn Thành - VPGT - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 107 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 162/2023/HSST
Ngày: 02-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Công Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vương Thị Minh Tân

2. Bà Dương Thị Hường

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Bùi Bá Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 149/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Triệu Văn Th; sinh năm 2003; giới tính: Nam; nơi sinh: tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Thôn Hồng Ph, xã Nam Th, huyện Nam Tr, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 6/12; con ông: Triệu Văn Tr, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1970; gia đình có 04 anh em bị cáo là con thứ hai; chưa có vợ, con; nhân thân: Ngày 19-11-2020 bị Tòa án nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18-8-2021) tiền sự: Không; bị cáo bị bắt truy nã, từ ngày 19-5-2023, sau đó chuyển tạm giam tại Nhà Tạm giữ - Công an thành phố N; (Có mặt).

- Bị hại: Bà Trần Thị Thanh B, sinh năm 1967; nơi cư trú: Số 204 đường Ng, phường Trần Quang Kh, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Người đại diện hợp pháp của bị hại gồm:

1. Ông Tô Anh T (chồng bà B), sinh năm 1958; (Vắng mặt)

2. Anh Tô Tuấn T (con đẻ bà B), sinh năm 1990; (Có mặt)

Đều trú tại: Số 204 đường Nguyễn B, phường Trần Quang Kh, thành phố N, tỉnh Nam Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 23-4-2022, Triệu Văn Th (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamha kiểu dáng Exciter màu đỏ đen, biển kiểm soát 18B2-948.37 đi trên đường đê hữu sông Đ, phường Phan Đình Ph - thành phố N hướng về đường Song H, trong điều kiện đường đê hữu sông Đ là đường hai chiều, không có vạch sơn chia chiều đường, mặt đường rộng 6,75m được trải nhựa bằng phẳng, trời tối, không mưa, mặt đường khô ráo, không có đèn chiếu sáng, tầm nhìn bị hạn chế; mật độ người và phương tiện tham gia giao thông đông. Th điều khiển xe mô tô đi lấn sang phần đường bên trái với tốc độ khoảng 70km/h, cách mép đường bên phải khoảng 04 mét. Khi điều khiển xe tới cách cột đèn chiếu sáng số 7 khoảng 20m, Thành quay mặt sang trái nhìn về phía sông Đ mà không quan sát phía trước, khi xe mô tô đi qua cột đèn chiếu sáng số 7 khoảng 10m, Th quay mặt lại nhìn về phía trước thấy bà Trần Thị Thanh B, sinh năm 1967 trú tại 204 Nguyễn B, phường Trần Quang Kh, thành phố N, tỉnh Nam Định, điều khiển xe đạp mi ni màu đỏ đã chuyển hướng rẽ trái để quay đầu đang dừng giữa đường (trên chiều đường bên phải theo hướng bà B đi) để nhường đường cho các phương tiện đi theo chiều ngược lại đến cách xe mô tô Th điều khiển khoảng 8m. Th liền phanh xe mô tô lại nhưng do khoảng cách quá gần phần đầu xe mô tô đã xô vào mặt ngoài khung bên phải xe đạp do bà B điều khiển làm bà B bị ngã đập đầu xuống đường chấn thương sọ não.

Tại hiện trường, xe mô tô biển kiểm soát 18B2-948.37 đổ ngả phải nằm trên mặt đường đê hữu sông Đ đầu xe hướng đường Trần Nhật D, đuôi xe hướng đường Song H; xe đạp đổ đổ ngả phải nằm trên mặt đường đê hữu sông Đ đầu xe hướng xiên chếch đường Trần Nhật D, đuôi xe hướng xiên chếch đường Song H; vết miết 1 trên mặt đường nhựa kích thước 8,0m x 0,05m chiều hướng từ đường Trần Nhật D đi đường Song H đầu vết cách mép đường chuẩn 2,65m cách mốc là 9,70m, cuối vết cách mép đường chuẩn 2,30m; vết cày 2 đứt quãng trên mặt đường chiều hướng từ đường Trần Nhật D đi đường Song H vết có kích thước dài 10,10m đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 2,45m, cuối vết cày trùng với giá để chân người lái xe bên phải xe mô tô; vết cày 3 đứt quãng trên mặt đường chiều hướng từ đường Trần Nhật D đi đường Song H vết có kích thước dài 8,15m đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 2,65m, cuối vết cày trùng với đầu mỏm tay lái bên phải xe mô tô; vết cày 4 đứt quãng trên mặt đường chiều hướng từ đường Trần Nhật D đi đường Song H vết có kích thước dài 8,15m đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 1,85m, cuối vết cày cách mép đường chuẩn là 0,5m; vết cày 5 đứt quãng trên mặt đường chiều hướng từ đường Trần Nhật D đi đường Song H vết có kích thước dài 4,7m đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 0,90m, cuối vết cày cách mép đường chuẩn là 0,35m; vết máu loang trên mặt đường đê hữu sông Đ kích thước 0,9m x 0,5m tâm vết máu cách mép đường chuẩn là 2,4m và cách đầu vết cày 5 là 4,05m.

Khám xe mô tô biển kiểm soát 18B2- 948.37 tại mặt ngoài lốp bánh xe trước có vết trượt làm sước mặt lốp, nổi mùn cao su đen, vết có chiều từ ngoài vào trong tâm trục bánh xe về sau kích thước vết dài 26 x 03cm điểm gần nhất cách tâm chân van 22cm làm cong vênh càng xe. Xe đạp mini màu đỏ, mặt ngoài khung xe phía bên phải có vết trượt làm xước mặt khung xe, làm đẩy cong gập khung xe theo chiều từ phải qua trái, trên mặt vết có dính chất màu đen có kích thước 14cm đo theo chiều cao, rộng 10cm đo theo chiều dài điểm gần nhất cách trục giữa xe là 12cm.

Quá trình điều tra xác định tại thời điểm xảy ra vụ việc trong hơi thở của bị cáo Thành không có nồng độ cồn, trong mẫu nước tiểu không có chất ma túy.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 217/22/TgT ngày 05-8-2022 của Trung tâm giám định pháp y Sở Y tế tỉnh Hà Nam kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định đối với bà Trần Thị Thanh B là 96%; cơ chế hình thành vết thương, chấn thương sọ não do đầu va đập với vật tày gây nên.

Quá trình điều tra bị cáo Th bỏ trốn ngày 19-5-2023 bị Cơ quan điều tra bắt theo lệnh truy nã. Tại Cơ quan điều tra Th đã khai nhận hành vi phạm tội.

Về dân sự: Triệu Văn Th đã thăm hỏi và bồi thường cho gia đình bà B 62.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại là ông Tô Anh T (chồng bà B), trú tại 204 Nguyễn B, phường Trần Quang Kh, thành phố N đã nhận tiền và không có yêu cầu gì khác.

Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18B2-948.37, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là Triệu Văn Th. Chiếc xe mi ni đã được trả lại cho đại diện gia đình bà Trần Thị Thanh B.

Bản Cáo trạng số 169/CT-VKSTPNĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Triệu Văn Th về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây được viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa: Bị cáo Triệu Văn Th khai nhận đã có hành vi vi phạm Luật giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả làm bà Trần Thị Thanh B bị tổn thương cơ thể 96% như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Triệu Văn Th theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Triệu Văn Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS; xử phạt bị cáo từ 24 đến 27 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.

Đại diện hợp pháp của bị hại (anh Tú) đề nghị HĐXX xét xử nghiêm minh đúng pháp luật về hành vi phạm tội của bị cáo để làm gương cho người khác khi tham gia giao thông; về việc bồi thường dân sự, gia đình đã nhận 62.000.000 đồng tuy không thể đáp ứng đủ để cứu chữa, điều trị và chăm sóc cho bà Bình đến nay, nhưng do hoàn cảnh của bị cáo cũng khó khăn nên gia đình không yêu cầu gì thêm.

Bị cáo, không có ý kiến tranh luận và nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình đã bồi thường và xin lỗi gia đình bị hại, nên đề nghị Hội đồng xét xử xen xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh trụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Triệu Văn Th và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo, Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 149/22/TgT ngày 14 tháng 6 năm 2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Hà Nam, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 18 giờ ngày 23-4-2022, Triệu Văn Th (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18B2-948.37 đi đến cột đèn chiếu sáng số 7 đê hữu sông Đ hướng về đường Song H không chú ý quan sát; đi không đúng chiều đường quy định nên đã để phần đầu xe mô tô xô vào mặt ngoài khung bên phải xe đạp do bà Trần Thị Thanh B điều khiển làm bà Bình bị tổn thương cơ thể 96%. Hành vi của bị cáo đã vi phạm vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ, điểm b khoản 7 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ - CP ngày 30-12-2019 của Chính phủ. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự; không thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó, lỗi của bị cáo là lỗi vô ý do chủ quan. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại tại điểm b khoản 1 Điều 260 BLHS. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng làm bị thương một người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 96%. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy Bản án hình sự ngày 19-11-2020 củaTòa án nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18-8-2021) nhưng bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi lần phạm tội này bị cáo phạm tội lỗi vô ý do chủ quan và thuộc trường hợp nghiêm trọng vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 53; điểm b khoản 1 Điều 107 BLHS bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS nên sẽ coi là nhân thân, ngoài ra trong quá trình điều tra bị cáo đã bỏ trốn không có mặt tại địa phương nên cơ quan điều tra ra lệnh truy nã và bị bắt giữ ngày 19-5-2023. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã đến xin lỗi và bồi thường cho gia đình bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Từ phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đề xuất của Kiểm sát viên là có cơ sở.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội do lỗi chủ quan về tham gia giao thông đường bộ, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm; nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề bồi thường dân sự.

Đối Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18B2-948.37, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là Triệu Văn Th. Chiếc xe mi ni đã được trả lại cho đại diện gia đình bà Trần Thị Thanh B là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Triệu Văn Th bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; điểm b khoản 1 Điều 107 BLHS.

Xử phạt bị cáo Triệu Văn Th 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19-5-2023.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Bị cáo Triệu Văn Th phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Triệu Văn Th, anh Tô Tuấn Tú được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Tô Anh Tuấn được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ