- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Trần Hữu H xin ly hôn với chị Nguyễn Mỹ N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Hữu H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 162/2023/HNGĐ-ST Ngày 24 – 7 – 2023 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quốc Diện
Bà Trần Thị Min
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Ngày 24 tháng 7 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 223/2023/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Hữu H, sinh năm 1997 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã P, huyện C, tỉnh C ..
Anh Trần Hữu H có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 09/6/2023.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Mỹ N, sinh năm 1999 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh C ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/4/2023 và các lời khai tại Tòa án anh Trần Hữu H (Nguyên đơn) trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị N chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2016 và sau đó đến ngày 05/9/2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống hạnh phúc nhưng đến thời gian gần đây thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi không thể hàn gắn được và đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, nay anh yêu cầu ly hôn với chị N.
Về con chung: Anh và chị N có các con chung là Trần Mai Trâm, sinh ngày 18/10/2016; Trần Bảo Trâm, sinh ngày 18/10/2016 và Trần Huyền Trâm, sinh ngày 16/5/2020. Hiện nay, các con đang sống với anh. Sau khi ly hôn, anh yêu cầu được nuôi các con và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh và chị N có tài sản chung nhưng đã tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.
Về nợ thu, nợ trả: Anh và chị N không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với chị Nguyễn Mỹ N, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về yêu cầu của anh H nhưng chị N không có ý kiến. Tòa án thông báo để chị N tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng chị N vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải giữa anh, chị được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị Nguyễn Mỹ N tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng chị N vắng mặt không lý do; nguyên đơn anh Trần Hữu H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H và chị N theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:
Tranh chấp giữa anh H và chị N là tranh chấp hôn nhân và gia đình về tranh chấp ly hôn và nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn chị Nguyễn Mỹ N có địa chỉ cư trú tại ấp Cái Giếng, xã Tân Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Anh H và chị N chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2016 và sau đó có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn 117/2017, ngày 05/9/2017. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Anh H yêu cầu được ly hôn với chị N, với nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cãi, và đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Đối với yêu cầu này Hội đồng xét xử thấy rằng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử chị N không có ý kiến bằng văn bản hay trực tiếp tranh tụng tại phiên tòa để thể hiện quan điểm đối với yêu cầu của anh H, cũng như tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng cho chị N. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa anh H và chị N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của anh H, cho anh H được ly hôn với chị N là có căn cứ pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh H xác định có con chung tên Trần Mai Trâm, sinh ngày 18/10/2016; Trần Bảo Trâm, sinh ngày 18/10/2016 và Trần Huyền Trâm, sinh ngày 16/5/2020, hiện đang sống với anh. Sau khi ly hôn anh H yêu cầu được nuôi ba con chung và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, các con chung của anh H và chị N do anh N nuôi dưỡng từ khi anh chị sống ly thân đến nay đã ổn định, hơn nữa chị N cũng không có ý kiến yêu cầu được nuôi con nên yêu cầu nuôi con của anh H là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh H giao cháu Trần Mai Trâm; Trần Bảo Trâm và Trần Huyền Trâm cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Anh H xác định có tài sản chung nhưng yêu cầu tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Phía chị N không có yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ thu, nợ trả: Anh H xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Phía chị N không có yêu cầu giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Nếu sau này, anh H và chị N có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9, 51, 53, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Hữu H.
[1] Về hôn nhân: Anh Trần Hữu H được ly hôn với chị Nguyễn Mỹ N.
[2] Về con chung: Giao cho anh Trần Hữu H được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Mai Trâm, sinh ngày 18/10/2016; Trần Bảo Trâm, sinh ngày 18/10/2016 và Trần Huyền Trâm, sinh ngày 16/5/2020 cho đên tuổi thành niên. Chị Nguyễn Mỹ N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Nguyễn Mỹ N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Trần Hữu H phải chịu án phí số tiền là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009036, ngày 12/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước; Anh H đã nộp đủ án phí.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Cái Nước; - Chi cục THADS huyện Cái Nước; - UBND xã Tân Hưng; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Trúc Hằng |