vanban.org

Bản án 162/2020/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 26/06/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/06/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H và kháng nghị của của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã H.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 31/2019/DS-ST ngày 20/11/2019 của Tòa án nhân dân thị xã H. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "tranh chấp BTTH"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H và kháng nghị của của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 162/2020/DS-PT
Ngày: 26 - 6 - 2020
V/v tranh chấp dân sự về bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng do danh dự,
nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sỹ Danh Đạt.

- Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy;

Ông Ngô Tấn Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Lê Ánh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hương – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 02/6/2020, 19/6/2020 và 26/6/2020, T trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công kH vụ án thụ lý số 121/2020/TLPT- DS ngày 17 tháng 02 năm 2020 về Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2019/DS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã H bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 256/2020/QĐ-PT ngày 11 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Văn T, sinh năm 1972;

Người đại diện theo ủy quyền của ông T là: Bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1970 (Theo giấy ủy quyền ngày 22/8/2019).

Cùng địa chỉ: Số nhà 59, Khóm 5, phường An Thạnh, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Nguyễn Thị H, sinh năm 1967;

Địa chỉ: Khóm 5, phường An Thạnh, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Thúy L, sinh ngày 23/11/2011.

Người đại diện theo pháp luật của Nguyễn Thị Thúy L là: Chị Võ Thị V, sinh năm 1993 (Mẹ đẻ);

Cùng địa chỉ: Khóm 5, phường An Thạnh, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn T là nguyên đơn và bà Nguyễn Thị H là bị đơn trong vụ án.

- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã H. (Bà Nguyễn Thị R, bà Nguyễn Thị H có mặt, chị Võ Thị V vắng mặt T phiên

tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:

Ngày 25/6/2019 ông bị bà Nguyễn Thị H ngụ cùng Khóm 5, phường An Thạnh, thị xã H làm đơn tố cáo ông đến Công an phường An Thạnh. Bà H cho rằng ông có hành vi xâm hại tình dục đối với cháu Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 2011 và yêu cầu xử lý ông theo quy định pháp luật. Trước và trong quá trình Công an thụ lý điều tra bà H tiếp tục đi tung tin khắp làng, khắp xóm nói là ông hiếp dâm cháu của bà lủng, rách màng trinh. Ông và gia đình đi đến đâu cũng bị bà con chòm xóm chỉ trỏ, chưởi mắng nói ông hiếp dâm trẻ em, bị mọi người dị nghị ảnh hưởng rất lớn đến nhân phẩm và danh dự của gia đình ông. Đến ngày 03/7/2019 ông nhận được Thông báo kết luận giám định số 58 ngày 02/7/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đối với cháu Nguyễn Thị Thúy L là âm hộ không bị tổn thương, màng trinh không giãn, không rách. Ngày 14/8/2019 ông tiếp tục nhận được thông báo số 62/TB-CSĐT ngày 13/8/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H về việc thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm và Quyết định số 38/QĐKKT-CSĐT ngày 13/8/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H về việc không khởi tố sự việc phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” và “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. Qua kết quả điều tra ông không phạm tội.

Vì vậy, ông yêu cầu bà H bồi thường tổn thất danh dự, nhân phẩm, tinh thần cho ông là 10 tháng lương cơ sở là: 10 x 1.490.000đ = 14.900.000đ và ngày công lao động từ ngày 25/6/2019 (Ngày làm đơn tố cáo) đến ngày 19/8/2019 (Ngày làm đơn khởi kiện) là: 56 ngày x 220.000đ = 12.320.000đ, tổng cộng là 27.220.000đ và yêu cầu bà H phải công kH xin lỗi ông trước các đoàn thể, bà con, cô bác nơi ông đang ở. Ông không đồng ý ông bồi thường tổn thất tinh thần cho cháu L số tiền 20.000.000đ theo yêu cầu của bà H.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Nguyên nhân sự việc là do cháu của bà tên Nguyễn Thị Thúy L (Sinh ngày 23/12/2011) chơi chung với cháu Nguyễn Võ Hữu Nhi và cháu Nguyễn Thị Mỹ Ngân (Sinh năm 2008) kể cho bà nghe việc ông T dụ dỗ cháu L cho ăn bánh rồi dẫn cháu L vào nhà của ông T để quan hệ tình dục. Bà cũng có nghe, bà Mấm (Trịnh Thị Liên) là người cùng xóm nói lại là trước đây bà Mấm có cảnh cáo ông T một lần là “Con người ta còn nhỏ đừng làm như vậy nữa”, nhưng ông T vẫn ngoan cố dụ dỗ cháu L cho ăn bánh rồi dẫn cháu L vào nhà của ông T để quan hệ, có cháu Ngân và cháu Nhi nhìn thấy. Ông T thực hiện hành vi quan hệ với cháu L nhiều lần nhưng bà không biết. Do đó, bà mới làm đơn gửi Công an. Công an điều tra thị xã H thụ lý hồ sơ có lấy lời kH của cháu L cùng cháu Ngân và cháu Nhi. Đồng thời, Công an có đưa cháu L đi giám định, kết quả giám định là cháu L không bị tổn thương rách màng trinh. Ông T cùng vợ ông T là bà Nguyễn Thị R la chửi bà và những người hàng xóm rất nhiều. Việc ông T kiện bà đòi bồi thường danh dự số tiền 27.220.000đ và phải xin lỗi ông T, bà không đồng ý vì sự việc xảy ra do ông T có hành vi xâm hại thân thể, trinh tiết cháu của bà. Ông T làm tổn thương danh dự gia đình bà và cháu L bị tổn thất tinh thần. Tuy rằng, cháu L âm hộ không tổn thương và màng trinh không bị rách nên không khởi tố được nhưng với hành vi của ông T là có xâm phạm thân thể trẻ em để giao cấu là có tội. Do đó, bà không đồng ý bồi thường số tiền 27.220.000đ và công kH xin lỗi ông T trước các đoàn thể, bà con, cô bác nơi ông T đang ở. Đồng thời, bà yêu cầu ông T bồi thường danh dự, tinh thần bị tổn thất cho cháu bà là Nguyễn Thị Thúy L với số tiền 20.000.000đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Thị Thúy L do chị Võ Thị V (mẹ ruột) là người đại diện theo pháp luật trình bày:

Vào một buổi sáng (không nhớ ngày tháng) gần lễ Noel năm 2018, cháu L đang đi chơi với cháu Nguyễn Võ Hữu Nhi ngang qua nhà ông Nguyễn Văn T, thì ông T kêu cháu L vào nhà cho ăn bánh. Khi L vào nhà, ông T kéo L lên giường và thực hiện hành vi quan hệ tình dục. Sau đó, cháu L la lên nên ông T bỏ ra và cho L đi ra ngoài. Đến khoảng tháng 6/2019, bà ngoại (Nguyễn Thị H) nghe Nhi và Ngân kể về ông T có hành vi quan hệ tình dục với L, thì bà H kêu L ra hỏi, L kể cho bà H nghe hành vi quan hệ tình dục của ông T đối với L, nên bà H làm đơn tố cáo ông T. Vì vậy, chị đại diện cháu Thúy L chỉ trình bày nội dung sự việc chớ không yêu cầu ông T bồi thường mà để cho bà Nguyễn Thị H yêu cầu.

T bản án dân sự sơ thẩm số 31/2019/DS-ST ngày 20/11/2019 của Tòa án nhân dân thị xã H đã xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T.

Buộc bà Nguyễn Thị H bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần cho ông Nguyễn Văn T với số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng chẳn).

2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị H bồi thường ngày công lao động từ ngày 25/6/2019 đến ngày 19/8/2019 là 56 ngày x 220.000đ = 12.320.000đ (mười H triệu ba trăm H mươi nghìn đồng chẳn).

3. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về yêu cầu bà Nguyễn Thị H công kH xin lỗi ông trước các đoàn thể, bà con, cô bác nơi ông đang ở.

Kể từ ngày ông Nguyễn Văn T có đơn yêu cầu thi hành án mà bà Nguyễn Thị H chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng phải chịu khoản tiền lãi bằng 50% mức lãi suất quy định T khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền chưa thi hành xong T thời điểm thi hành án.

4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T bồi thường tổn thất tinh thần cho cháu bà là Nguyễn Thị Thúy L với số tiền là 20.000.000đ (H mươi triệu đồng chẳn).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền và thời hạn kháng cáo, quyền, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

+ Ngày 25/11/2020 ông Nguyễn Văn T làm kháng cáo bản án sơ thẩm. Ông yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa bản án sơ thẩm số 31/2019/DS-ST ngày 20/11/2019 của Tòa án nhân dân thị xã H. Chấp nhận yêu cầu của ông buộc bà Nguyễn Thị H bồi thường tổn thất tinh thần cho ông 10 tháng lương cơ sở là 14.900.000đ, 56 ngày công lao động mỗi ngày 220.000đ, buộc bà H công kH xin lỗi ông trước các đoàn thể, bà con cô bác nơi ông đang ở là phường An Thanh, thị xã H.

+ Ngày 25/11/2019 bà Nguyễn Thị H là bị đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bà không đồng ý bồi thường cho ông Nguyễn Văn T 3.000.000đ.

+ Ngày 05/12/2019 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã H ban hành Quyết định kháng nghị số 01/QĐKNPT-VKS-DS ngày 05/12/2019 kháng nghị bản án số 31/2019/DS-ST ngày 20/11/2019 của Tòa án nhân dân thị xã H. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm theo hướng sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T; xem xét yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị H.

T phiên tòa phúc thẩm:

Các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của mình, không thỏa thuận được với nhau về nội dung giải quyết của vụ án.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm:

+ Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự có mặt T phiên tòa đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

+ Về nội dung:

Rút một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã H về phần đề nghị xem xét yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị H đối với số tiền 20.000.000đ mà bà H yêu cầu ông T bồi thường thiệt hại cho cháu L.

Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T; Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H; Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, sửa bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra T phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng T phiên tòa:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét việc bà Nguyễn Thị H làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với ông Nguyễn Văn T vào ngày 24/6/2019, bà cho rằng ông T có hành vi hiếp dâm cháu ngoại của bà là Nguyễn Thị Thúy L, sinh ngày 23/12/2011. Công an thị xã H đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, đưa cháu L đi giám định. T bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 43, ngày 27/6/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp kết luận đối với Nguyễn Thị Thúy L như sau: “-Âm hộ không bị tổn thương; màng trinh không dãn, không rách”. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ, kết quả xác minh nguồn tin tố giác về tội phạm, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H ra Quyết định số 38/QĐKKT-CSĐT, ngày 13/8/2019 không khởi tố hình sự đối với ông Nguyễn Văn T vì không có sự việc “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” và “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. Ngoài ra, bà H cũng không có chứng cứ chứng minh là ông T có hành vi xâm hại cháu L mà bà chỉ dựa vào lời trình bày của cháu Nhi, cháu L và cháu Ngân mà cho rằng ông T có hành vi xâm hại cháu L mà tố cáo ông T. Lời kH của cháu Nhi, cháu L, cháu Ngân có nhiều mâu thuẫn về thời gian và về diễn biến của sự việc nên không đủ cơ sở để xác định ông T có xâm hại cháu L. Việc bà H tố cáo đã làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của ông T. Tuy nhiên, theo biên bản lấy lời kH những người làm chứng như bà Võ Thị Bích Thuận, ông Trương Văn Vũ cũng như sự thừa nhận của ông T thì việc bà H tố cáo ông T khoảng mấy ngày đầu cũng phần nào ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của ông T nhưng hàng xóm không có ai xa lánh hay kỳ thị gì với ông, ông vẫn đi làm bình thường. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mức độ thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông T là không lớn. Mặt khác, bà H tố cáo ông T là do bà nghe cháu của bà nói cho bà biết về hành vi xâm hại của ông T với cháu của bà. Vì bà là người trực tiếp muôi cháu L vì muốn bảo vệ cháu của mình nên bà mới tố cáo ông T. Bà không vu khống, bịa đặt ra sự việc để làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của ông T. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của ông T, buộc bà H bồi thường thiệt hại cho ông T 3.000.000đ là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

Vì vậy, ông T kháng cáo yêu cầu bà Nguyễn Thị H bồi thường tổn thất tinh thần cho ông 10 tháng lương cơ sở là 14.900.000đ, 56 ngày công lao động mỗi ngày 220.000đ và buộc bà H công kH xin lỗi ông là chưa phù hợp.

Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị H không đồng ý bồi thường thiệt hại 3.000.000đ cho ông T là chưa phù hợp như đã phân tích ở trên. Bởi vì, việc bà tố cáo ông T có hành vi hiếp dâm Nguyễn Thị Thúy L đã phần nào làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩn và uy tín của ông T. Do đó, bà phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho ông T như án sơ thẩm đã tuyên mới phù hợp pháp luật.

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã H và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là chỉ phù hợp một phần như đã nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận phần đề nghị về việc không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông T, bà H và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Do không chấp nhận kháng cáo nên ông T, bà H mỗi người phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm. Do, ông T được miễn tiền án phí dân sự theo quy định của pháp luật, nên ông T không phải nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 147, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 584, Điều 592 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H và kháng nghị của của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã H.

2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 31/2019/DS-ST ngày 20/11/2019 của Tòa án nhân dân thị xã H.

3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T.

4. Buộc bà Nguyễn Thị H phải bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn T số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng).

5. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị H bồi thường ngày công lao động là 12.320.000đ và công kH xin lỗi ông trước các đoàn thể, bà con, cô bác nơi ông đang ở.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định T Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

6. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T bồi thường tổn thất tinh thần cho cháu Nguyễn Thị Thúy L số tiền 20.000.000đ.

7. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm, 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm và được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai số 0007435 ngày 26/11/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã H. Số còn lại bà H phải nộp tiếp là 300.000đ.

Phần của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định T Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định T các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định T Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi Nhận:

Cỡ chữ