vanban.org

Bản án 162/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 25/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn văn C đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ V
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 162/2019/HSST
Ngày: 25-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Chín

Ông Trần Huy Cường

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đức Minh – Thư ký tòa án Toà án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 25/11/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 158/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 529/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, sinh năm 1981; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu 8, khu L, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Bán vé số; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Bùi Thị Đ (đã chết); vợ Nguyễn Thị Như H; con: 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2013, tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 29/8/2019 đến ngày 04/9/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện đang tại ngoại ở địa phương, có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 29/8/2019, Nguyễn Văn C đang bán vé số tại vỉa hè đường đại lộ Hùng Vương thuộc khu 2, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ thì Đào Văn T, sinh năm 1996 và Lê Minh Đ, sinh năm 1991, đều trú tại xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ tới hỏi mua số lô, C đồng ý. T là người mua trước và mua các số lô 68, 86, 79, 97, 08, mỗi số 30 điểm, tổng là 150 điểm x 20.000đ/1 điểm = 3.000.000 đồng. Sau đó Đ mua các số lô 02, 20, 30, 03, mỗi số 30 điểm, tổng là 120 điểm x 20.000đ/1 điểm = 2.400.000 đồng. C dùng bút bi mực đen viết các số lô vào tờ giấy kích thước 7x10 cm (gọi là cáp lô) và đưa cho T và Đ, sau đó viết lại vào 02 tờ giấy kích thước 7x10cm để giữ lại làm căn cứ đối chiếu sau khi có kết quả xổ số. Sau khi viết xong C nhận 3.000.000 đồng T đưa và 2.400.000 đồng Đ đưa. Khi C đang nhận 2.400.000 đồng của Đ thì tổ công tác của Công an thành phố V phát hiện bắt quả tang. Quá trình điều tra làm rõ, Nguyễn Văn C được cấp phép làm đại lý bán xổ số, lô tô Nhà nước nhưng vì muốn thu lời bất C nên đã tự đứng ra bán số lô.

Tại Cáo trạng số 170/CT-VKSVT ngày 07/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015;

Tại phiên tòa,

Bị cáo C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Đánh bạc”; áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ; áp dụng các quy định của pháp luật để xử lý vật chứng và án phí.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai trái, bị cáo ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được áp dụng hình phạt tiền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống Đ cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đúng thời hạn do pháp luật quy định nên các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về nội dung:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Hồi 17 giờ 40 phút, ngày 29/8/2019, tại đường H thuộc khu 2, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác đội Điều tra Hình sự Công an thành phố V bắt quả tang Nguyễn Văn C đang thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô cho Đào Văn T với số tiền 3.000.000 (Ba triệu đồng) và Lê Minh Đ với số tiền là 2.400.000 (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng); tổng số là 5.400.000đ (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng). Hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô của C bị phát hiện trước khi có kết quả mở thưởng xổ số nên C phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền dùng để đánh bạc là 5.400.000 đồng. Như vậy, nên C phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận biết hành vi phạm tội của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì động cơ vụ lợi cá nhân.

Xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào. Lần phạm tội này của bị cáo là lần đầu và thuộc T hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội ít nghiêm trọng, số tiền đánh bạc ít chỉ trên mức tối thiểu không đáng kể. Hơn nữa, hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ nghề nghiệp bán vé số, dễ phát sinh hành vi trái pháp luật ngoài phạm vi nghề nghiệp mà pháp luật cho phép; bị cáo có khả năng để nộp phạt tiền nên cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt C là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000đ đến 100.000.000đ hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy đã áp dụng hình phạt C đối với bị cáo là hình phạt tiền thì không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung và bị cáo không có tài sản, không có thu nhập ổn định cho nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Đối với Đào Văn T và Lê Minh Đ, quá trình điều tra xác định hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số lô là vi phạm pháp luật nhưng số tiền mà T, Đ dùng để đánh bạc chưa tới mức để xử lý hình sự, bản thân T và Đ chưa có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc” hoặc “Tổ chức đánh bạc, gá bạc” nên Công an thành phố V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành C đối với T, Đ với mức phạt tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) là phù hợp.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

- Đối với 01 tờ giấy kích thước 7x10 cm có ghi các số tự nhiên thu giữ của C; 01 tờ giấy kích thước 7x10cm, có ghi các só 68, 86, 79, 97, 08 thu giữ của T; 01 tờ giấy kích thước 7x10 cm, có ghi các số 02, 20, 30, 03 thu giữ của Đ là vật chứa đựng chứng cứ, đã đánh dầu bút lục lưu trong hồ sơ vụ án nên cần tiếp tục lưu hồ sơ.

- Đối với 06 tờ giấy trắng, kích thước 7x10cm, 01 bút bi mực màu đen, 01 ghế nhựa màu đỏ, 01 bàn nhựa màu đỏ là công cụ, phương tiện C sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nhưng là vật không có giá trị, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với số tiền 5.400.000đ (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng) là tiền do C phạm tội mà có nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sư 2015; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy: 06 tờ giấy trắng, kích thước 7x10cm, 01 bút bi mực màu đen, 01 ghế nhựa màu đỏ, 01 bàn nhựa màu đỏ.

- Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.400.000đ (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng).

Các vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trong T hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND thành phố V, tỉnh Phú Thọ;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ;

- THA HS, DS thành phố V, tỉnh Phú Thọ;

- Bị cáo

- Lưu HSVA.

Phùng Thị Thu Hường CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Thị Thu Hường CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Thị Thu Hường CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Thị Thu Hường Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND thành phố V, tỉnh Phú Thọ;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ;

- THA HS, DS thành phố V, tỉnh Phú Thọ;

- Bị cáo

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Lưu HSVA.

Phùng Thị Thu Hường

Cỡ chữ