- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 162/2019/HS-ST Ngày: 28 - 11 - 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƢỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn An
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Ngọc Sử và Bà Mai Thị Hằng
-Thư ký phiên tòa: Ông Đào Hùng Thái - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Đăng - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 168/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Lê T, sinh năm 1985 tại Bình Phước; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thôn 01, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê P, sinh năm 1958 và bà Ngô Thị T, sinh năm 1960; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/8/2019 cho đến nay “có mặt”.
Người làm chứng:
Anh Điểu B, sinh năm 1993; nơi cư trú thôn 02, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”;
Ông Khương Quang D, sinh năm 1971; nơi cư trú khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân là người thường xuyên sử dụng ma túy đá nên vào khoảng 09 giờ ngày 14/8/2019, khi đang ở thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước thì T được đối tượng tên H (chưa rõ nhân thân, lai lịch) cho 01 gói nylon hàn kín mép, bên trong chứa ma túy tổng hợp dạng đá để sử dụng, T cất giấu gói nylon chứa ma túy trong túi quần đang mặc rồi đi về nhà của mình tại thôn 01, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Khoảng 21 giờ ngày 17/8/2019, T trích ra một ít ma túy trong gói nylon cho vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế sử dụng hết, số ma túy đá còn lại thì T hàn kín mép gói nylon rồi cất giấu vào túi quần đang mặc. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 18/8/2019, khi T đang ở nhà thì có Điểu B đến chơi, sau đó T và B cùng nhau đón xe khách đến nhà một người đàn ông tên T (không rõ nhân thân lai lịch) ở thành phố Đ chơi. Khoảng 02 giờ cùng ngày, T và B xuống xe ở khu vực ngã ba trạm điện, thuộc phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, sau đó cả hai đi bộ vào đường N để tìm nhà của T. Khi T và B đi đến đoạn đường Nguyễn H gần quán bar L, thuộc khu phố S, phường T, thành phố Đ thì bị lực lượng Công an thành phố Đ kết hợp Công an phường T kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện trong túi quần T đang mặc trên người có 01 gói nylon hàn kín các mép, kích thước 03cm x 02cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (T khai nhận tinh thể màu trắng trong gói nylon là ma túy tổng hợp dạng đá) nên lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T.
Tại bản kết luận giám định số 198/2019/GĐ-MT ngày 23/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Tinh thể màu trắng có trong 01 gói nylon hàn kín (ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,3475 gam.
Quá trình điều tra bắt quả tang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã thu giữ: 01 gói nylon hàn kín mép, kích thước 03cm x 02cm, bên trong gói chứa tinh thể màu trắng (đã được niêm phong theo quy định); 02 nỏ thủy tinh, 01 quẹt ga, 01 nắp nhựa màu vàng gắn 01 đoạn ống hút màu vàng, 01 ví màu nâu; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đồng, đã qua sử dụng.
Tại Bản cáo trạng số 164/CT-VKS ngày 12/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ truy tố bị cáo Lê T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê T mức án từ 15 đến 18 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và các dụng cụ được bị cáo dùng vào việc sử dụng ma túy. Trả lại cho bị cáo 01 ví màu nâu và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đồng đã qua sử dụng.
Bị cáo Lê T tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số 164/CT-VKS ngày 14/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
Xét lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với lời khai của người chứng kiến; phù hợp với kết luận điều tra, với kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Thấy, phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Do bản thân là người nghiện ma túy nên khoảng 09 giờ ngày 14/8/2019, Lê T được một đối tượng H (không rõ nhân thân, lai lịch) cho 01 gói nylon hàn kín mép, bên trong chứa ma túy tổng hợp dạng đá để sử dụng, sau khi trích một ít ra sử dụng thì khoảng 00 giờ 30 phút ngày 18/8/2019 T cùng Điểu B đón xe khách đến khu vực ngã 3 trạm điện để tìm nhà của người tên T thì bị lực lượng Công an kiểm tra hành chính thu giữ số ma túy của T.
Tại bản kết luận giám định số 198/2019/GĐ-MT ngày 23/8/2019 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Tinh thể màu trắng có trong 01 gói nylon hàn kín (ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,3475 gam
[3] Hành vi bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào khối lượng 0,23475 gam ma túy loại Methamphetamine bị cáo cất giấu để sử dụng mà Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bản thân bị cáo hoàn toàn nhận thức được việc cất giấu ma túy để sử dụng là hành vi vi phạm pháp luật, khi bị phát hiện sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Song, để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện.
[5] Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng và sự phát triển lành mạnh của con người. Vì vậy cần có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi và hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Bị cáo được xem xét tình tiết giảm nhẹ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, quá trình kiểm tra hành chính bắt quả tang bị cáo tự nguyện giao nộp số ma túy cất giữ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
[7] Đối với đối tượng tên H là người đã cho bị cáo T số ma túy, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đang tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với anh Điểu B là người đi cùng với T nhưng không biết việc T cất giấu ma túy để sử dụng nên không đặt vấn đề xử lý.
[8] Về vật chứng của vụ án:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Cần tịch thu tiêu hủy số vật chứng hiện không còn giá trị sử dụng gồm 01 bì thư ký hiệu vụ số 198/2019 đựng ma túy còn lại sau giám định được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước niêm phong, đóng dấu giáp lai; 02 nỏ thủy tinh; 01 quẹt ga; 01 nắp nhựa màu vàng gắn 01 đoạn ống hút màu vàng;
Trả lại cho bị cáo T 01 ví màu nâu và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đồng, đã qua sử dụng.
[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ tại phiên tòa là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Lê T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2019.
3. Về vật chứng vụ án:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư ký hiệu vụ số 198/2019 đựng ma túy còn lại sau giám định được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước niêm phong, đóng dấu giáp lai; 02 nỏ thủy tinh; 01 quẹt ga 01 nắp nhựa màu vàng gắn 01 đoạn ống hút màu vàng;
Trả lại cho bị cáo T 01 ví màu nâu và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đồng, đã cũ, không lên nguồn, không kiểm tra được tình trạng máy móc bên trong.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0001737, quyển số 0035, ký hiệu D47/2017 ngày 13/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Đ).
4. Về án phí sơ thẩm:
Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước; - VKSND thành phố Đ; - VKSND tỉnh Bình Phước; - Chi cục THADS thành phố Đ; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước. - CA thành phố Đ; - Phòng PV 06 Công an tỉnh BP; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS-VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa đã ký Lê Văn An |