vanban.org

Bản án 162/2019/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Huế Tuyên án 06/11/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "321.Tội đánh bạc (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TH A THI N HU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 162/2019/HS-PT
Ngày: 06/11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGH A VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TH A THI N HU

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Thanh

Các Thẩm phán: Ông Trương Cao Sơn v ng Nguyễn Thanh ộc.

Thư ký phiên tòa: Ông H Vinh Phú - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Th a Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Th a Thiên Hu tham gia phiên tòa: B Đo n Thị Ái Hoa, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân t nh Th a Thiên Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 130/2019/TLPT- HS ngày 18 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo ê Thị H v đ ng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2019/HSST ngày 06/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú V, t nh Th a Thiên Huế.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Bị cáo Lê Thị H, sinh năm 1967 tại t nh Th a Thiên Huế. Nơi cư trú: Th n Diên Đ, xã Phú X, huyện Phú V, t nh Th a Thiên Huế; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; t n giáo: Kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ông ê Đình (Chết) v b Nguyễn Thị T (Chết); có ch ng: Ho ng Văn T (Chết) v 04 đứa con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án: 01 tiền án;

- Ng y 03/5/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, t nh Th a Thiên Huế xử phạt 07 (Bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách l 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng v phạt bổ sung 3.000.000 đ ng (Ba triệu đ ng), về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 26/2018/HS-ST, tiền sự: Kh ng;

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” t ng y 08/01/2019 cho đến nay. Có mặt.

2. Bị cáo Nguyễn Thị Kim H, sinh ng y 12 tháng 10 năm 1960 tại t nh Quảng Bình. Nơi cư trú: Th n ộc S, xã Phú X, huyện Phú V, t nh Th a Thiên Huế; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; t n giáo: Kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ng Nguyễn Thanh S (Chết) v b Phạm Thị N; có ch ng l ng H Ngọc C v 03 đứa con, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền sự: Kh ng; tiền án: 01 tiền án;

- Ng y 25/6/2013, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, t nh Th a Thiên Huế xử phạt 09 (Chín) tháng cải tạo kh ng giam giữ v hình phạt bổ sung 3.000.000 đ ng (Ba triệu đ ng), về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 26/2013/HSST;

Về nhân thân: Ng y 07/12/2006, bị C ng an huyện Phú V, t nh Th a Thiên Huế xử phạt 1.000.000 đ ng (Một triệu đ ng), về h nh vi đánh bạc theo Quyết định số 4792, đã chấp h nh xong; ng y 04/5/2010, bị C ng an huyện Phú V, t nh Th a Thiên Huế xử phạt 500.000 đ ng (Năm trăm nghìn đ ng) về h nh vi đánh bạc theo Quyết định số 10932/QĐ/XPVPHC, đã chấp h nh xong;

Bị tạm giữ t ng y 03/01/2019, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” t ng y 08/01/2019 cho đến nay. Có mặt.

3. Bị cáo Bùi Thị B, sinh ng y 19 tháng 10 năm 1979 tại t nh Th a Thiên Huế. Nơi cư trú: Tổ dân phố Hải T, thị trấn Thuận A, huyện Phú V, t nh Th a Thiên Huế; nghề nghiệp: Bu n bán; trình độ văn hoá: Kh ng biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; t n giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ng Bùi T (Chết) v bà Trần Thị ; có ch ng l anh Nguyễn Văn H v 02 đứa con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2006; tiền án: Kh ng, tiền sự: Kh ng; nhân thân:

- Ng y 02/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Phú V, t nh Th a Thiên Huế xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách l 01 (một) năm v hình phạt bổ sung l 3.000.000 đ ng (Ba triệu đ ng), về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 27/2013/HSST, đã chấp h nh xong;

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” t ng y 08/01/2019 cho đến nay. Có mặt.

Ngo i ra còn có 09 bị cáo khác kh ng có kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các t i liệu có trong h sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 02/01/2019, Võ Hoài T đi ngang qua nh ng Phan Văn H (Đang có đám tang), ở th n Xuân O, xã Phú X, huyện Phú V, t nh Th a Thiên Huế. Khi T vào nhà ông H thì thấy một nhóm người đang đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền do một người đ n ng (Kh ng rõ nhân thân, lai lịch) l m cái. Sau đó, T tham gia làm cái xóc đĩa được thua bằng tiền; lúc T làm cái có Nguyễn Quang M, Trần Thị K, Bùi Thị B, Nguyễn Thị , Ng Thị Thanh T, Bùi Thị , Nguyễn Thị Kim H, ê Thị H, Phan Xuân P, Phan Thị T và Phan Văn B tham gia đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền. Đ ng thời có một số người đứng xem l anh Nguyễn Việt T, anh Nguyễn Đ, ông Nguyễn Ngọc D và bà ê Thị T.

Hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền như sau: Dùng lá b i tú lơ khơ cắt th nh 04 hột vị có hình tròn, có mặt đen v mặt trắng. Người l m cái bỏ 04 hột vị v o 01 cái đĩa, úp trên l 01 cái chén r i xóc. Khi xóc m ra 01 mặt đen 03 mặt trắng hoặc 03 mặt đen 01 mặt trắng lại gọi l lẻ, ra 02 mặt đen 02 mặt trắng hoặc 04 mặt đen hoặc 04 mặt trắng gọi l chẵn. Người l m cái quy ước bên tay phải l chẵn, bên tay trái l lẻ, theo đó, người chơi sẽ đặt tiền cược v o để tính thắng thua với nhau.

Quá trình đánh xóc đĩa được thua bằng tiền, các bị cáo chuẩn bị tiền để dùng v o việc đánh bạc như sau: Võ Hoài T sử dụng số tiền 3.200.000 đ ng để đánh bạc, quá trình đánh bạc kh ng thắng kh ng thua, khi c ng an bắt quả tang, T bỏ chạy, số tiền 3.200.000 đ ng bị rơi ở đâu kh ng rõ. Nguyễn Quang M sử dụng số tiền 2.820.000 đ ng để đánh bạc, thua 300.000 đ ng, còn lại 2.520.000 đ ng. Phan Xuân P sử dụng số tiền 2.200.000 đ ng để đánh bạc, thắng 900.000 đ ng. Trần Thị K sử dụng số tiền 2.000.000 đ ng để đánh bạc, thắng 3.120.000 đ ng. Nguyễn Thị Kim H sử dụng số tiền 2.000.000 đ ng để đánh bạc, thua 500.000 đ ng. Bùi Thị B sử dụng số tiền 1.500.000 đ ng để đánh bạc, thua 500.000 đ ng. Nguyễn Thị sử dụng số tiền 1.250.000 đ ng để đánh bạc, thua 850.000 đ ng. Ng Thị Thanh T sử dụng số tiền 900.000 đ ng để đánh bạc, thua hết 900.000 đ ng. ê Thị H sử dụng số tiền 700.000 đ ng để đánh bạc, thua 600.000 đ ng. Bùi Thị sử dụng số tiền 500.000 đ ng để đánh bạc, thua 430.000 đ ng. Phan Thị T sử dụng số tiền 300.000 đ ng để đánh bạc, thua 240.000 đ ng. Phan Văn B sử dụng số tiền 70.000 đ ng để đánh bạc, đặt 50.000 đ ng, chưa rõ thắng thua, số tiền còn lại bị rơi khi bị bắt quả tang.

Đến 23 giờ 25 phút cùng ng y, cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an huyện Phú V, t nh Th a Thiên Huế phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 8.400.000 đ ng, 01 bộ chén đĩa, 04 hột vị tròn cắt t lá b i tú lơ khơ, 01 chiếc chiếu.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2019/HS-ST ngày 06/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú V đã áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo; áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị Kim H, ê Thị H.

Xử phạt:

- Bị cáo ê Thị H 09 (Chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Áp dụng thêm Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 07 (Bảy) tháng tù tại Bản án số 26/2018/HS-ST ng y 03/5/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, t nh Th a Thiên Huế, buộc bị cáo Hương phải chịu 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính t ng y bị bắt đi thi h nh án.

- Bị cáo Nguyễn Thị Kim H 09 (Chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính t ng y bị bắt đi thi h nh án tr v o thời gian tạm giữ l 06 ng y (T ng y 03/01/2019 đến ng y 08/01/2019).

- Bị cáo Bùi Thị B 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính t ng y bị bắt đi thi h nh án.

Ngo i ra, bản án sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo khác, phạt bổ sung v quyết định về xử lý vật chứng, tuyên về án phí v quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 09/8/2019, các bị cáo ê Thị H, Nguyễn Thị Kim H, Bùi Thị B đều kháng cáo đề nghị được giảm nhẹ hình phạt tù v xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa: Các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Th a Thiên Huế sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của h nh vi; nhân thân v các tình tiết, tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo; đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét thêm cho bị cáo Bùi Thị B có thêm tình tiết nộp tiền thi hành hình phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm trong giai đoạn xét xử phúc thẩm nên được áp dụng thêm khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, đã đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Kh ng chấp nhận kháng cáo của các bị cáo ê Thị H, Nguyễn Thị Kim H, Bùi Thị B, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2019/HS-ST ngày 06/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú V, t nh Th a Thiên Huế.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong h sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:

Đã có cơ sở để kết luận: Khoảng 23 giờ 25 phút ng y 02/01/2019, tại nh ông Phan Văn H ở th n Xuân O, xã Phú X, huyện Phú V, t nh Th a Thiên Huế, các bị cáo Võ Hoài T (Làm cái), Nguyễn Quang M, Trần Thị K, Bùi Thị B, Nguyễn Thị L, Ng Thị Thanh T, Bùi Thị , Nguyễn Thị Kim H, ê Thị H, Phan Xuân P, Phan Thị T và Phan Văn B đã tụ tập đánh bạc do bị cáo Võ Hoài T làm cái dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền. Số tiền thu giữ tại chiếu bạc v trên người các bị cáo có căn cứ xác định các bị cáo đã dùng hoặc sẽ dùng đánh bạc l 29.860.000 đ ng (Hai mươi chín triệu tám trăm sáu mươi nghìn đ ng).

Do đó, các bị cáo ê Thị H, Nguyễn Thị Kim H, Bùi Thị B bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án về tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, l có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của các bị cáo Hội đ ng xét xử nhận thấy:

Các bị cáo ê Thị H, Nguyễn Thị Kim H, Bùi Thị B đã có h nh vi cùng tham gia đánh bạc sát phạt nhau thắng thua tiền bằng hình thức xóc đĩa với các bị cáo khác trong vụ án l h nh vi bị pháp luật nghiêm cấm, các bị cáo ê Thị H, Nguyễn Thị Kim H, Bùi Thị B nhân thân đều đã t ng bị kết án, t ng bị xử phạt h nh chính về tội “Đánh bạc”, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, lao v o việc đỏ đen; kh ng chịu tu dưỡng rèn luyện, với thiên chức l người vợ, người mẹ không lấy đó l m b i học, l m gương cho con cái. Các biện pháp v chế t i xử phạt trước đó của các cơ quan nhà nước v Tòa án chưa đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo, nên cần phải có mức án tương xứng áp dụng đối với h nh vi phạm tội của các bị cáo.

Bị cáo ê Thị H phạm tội trong thời gian thử thách của án treo với mức hình phạt 07 (Bảy) tháng tù thời gian thử thách l 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng kể t ng y tuyên án tại Bản án số 26/2018/HS-ST ng y 03/5/3018 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội, phạm v o tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Nguyễn Thị Kim H khi thực hiện h nh vi phạm tội chưa được xóa án tích; tuy bị cáo Hóa đã nộp số tiền phạt 3.000.000đ của hình phạt bổ sung vào ngày 08/4/2019, l thời điểm sau ng y bị cáo thực hiện h nh vi phạm tội trong vụ án n y. Do đó, bị cáo đã phạm v o tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Bùi Thị B tuy kh ng có án tích nhưng xét nhân thân đã t ng bị Tòa án xét xử, cho hưởng án treo để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội tự rèn luyện cải tạo nhưng lại tiếp tục cố ý thực hiện tội phạm. Trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo đã tự nguyện thi h nh hình phạt bổ sung 10.000.000đ v 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm của bản án n y; cần chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng thêm cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đ ng xét xử xét thấy “Đánh bạc” l một tệ nạn xã hội, ng y c ng trở nên phổ biến với nhiều hình thức khác nhau, các đối tượng đam mê đỏ đen, sát phạt nhau bằng mọi cách, kh ng ch gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội, còn l một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác, l m ảnh hưởng nghiêm trọng đến hạnh phúc gia đình, gây mất an ninh trật tự xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo góp phần giáo dục, răn đe v phòng ng a chung.

Xét nội dung kháng cáo: Các bị cáo đều kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt tù v xin được hưởng án treo; xét thấy nhân thân các bị cáo: ê Thị H phạm tội trong thời gian thử thách của án treo; Nguyễn Thị Kim H có 01 tiền án; Bùi Thị B có nhân thân đã t ng bị Tòa án xét xử về tội Đánh bạc, nên các bị cáo kh ng hội đủ các điều kiện quy định của Bộ luật hình sự v Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ng y 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi h nh điều 65 của Bộ luật hình sự để xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.

Xét thấy khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ h nh vi phạm tội, nhân thân và đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với t ng bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo đều kh ng có t i liệu gì mới để xem xét giảm nhẹ hình phạt; mức hình phạt m Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo l phù hợp, kh ng nặng nên kh ng có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo; vì vậy cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm kh ng bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUY T ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo ê Thị H, Nguyễn Thị Kim H và Bùi Thị B, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2019/HS-ST ngày 06/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú V, t nh Th a Thiên Huế.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo; áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị Kim H, ê Thị H; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Thị B.

Xử phạt: Bị cáo ê Thị H 09 (Chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Áp dụng Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 07 (Bảy) tháng tù của Bản án số 26/2018/HS - ST ng y 03/5/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, t nh Th a Thiên Huế, buộc bị cáo ê Thị H phải chịu 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính t ng y bắt đi thi h nh án.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kim H 09 (Chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính t ng y bắt đi thi h nh án, được tr v o thời gian tạm giữ l 06 ng y (t ng y 03/01/2019 đến ng y 08/01/2019).

Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị B 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính t ng y bắt đi thi h nh án.

2. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án;

Xử buộc các bị cáo ê Thị H, Nguyễn Thị Kim H, Bùi Thị B, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ ng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2019/HS - ST ngày 06/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú V, t nh Th a Thiên Huế kh ng có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể t ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ng y tuyên án.

Cỡ chữ