vanban.org

Bản án 162/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Tuyên án 21/12/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 47; Điều 50; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

[2] Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn P, Vũ Văn K phạm tội “Đánh bạc”. [3] Xử phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "321.Tội đánh bạc (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 47; Điều 50; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 162/2018/HS-ST
Ngày 21 - 12 - 2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ- TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: -Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Chí Trung và bà Nguyễn Thị Huê. Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Nhung - Là Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên toà: Ông Phạm Sỹ Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 155/2018/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2018/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2018, đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Văn P, sinh năm 1989; Nơi ĐKNKTT, chỗ ở: tổ 8, phường TT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn P1, sinh năm 1966 và bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1964; Vợ: Trần Thị T2, sinh năm 1991; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 23/8/2018, Công an phường TT, thành phố Phủ Lý ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc”; tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý; có mặt tại phiên tòa.

2/ Vũ Văn K, sinh năm 1993; Nơi ĐKNKTT, chỗ ở: tổ 10, phường HBT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn L, sinh năm 1959 và bà: Đỗ Kim C, sinh năm 1962; Vợ: Bùi Ngọc A, sinh năm 1995; con: có 01 con sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 23/8/2018, Công an phường TT, thành phố Phủ Lý ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc”; tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý; có mặt tại phiên tòa.

* Ngưêi cã quyÒn lîi, nghÜa vô liªn quan:

- Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1976; trú tại: tổ 4, phường TT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

- Anh Hoàng Văn M, sinh năm 1975; trú tại: tổ 6, phường TT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; có đơn xin xử vắng mặt.

- Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1968; trú tại: tổ 6, phường TT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 20/9/2018, ông Hoàng Văn H gọi điện thoại cho Vũ Văn K và Nguyễn Văn P đến nhà ăn cơm, sau đó Hoàng Văn M và Hoàng Văn T đến nhà ông H chơi và cùng uống rượu. Sau khi ăn uống xong, Vũ Văn K và Nguyễn Văn P đi về thì có Đinh Văn Tuấn và Vũ Văn Bình đến nhà ông H chơi. Trong lúc ngồi uống nước, Hoàng Văn T nói “tôi mới bị tai nạn may mà không sao, anh em ngồi làm tý phỏm nếu ai thắng thì mai trả tiền ăn sáng”. Ông H là chủ nhà không đồng ý cho chơi và đuổi vợ chồng Bình về, Bình chở vợ con đi về, Tuấn cũng đứng lên đi về. Lúc sau, ông Hoàng Văn H do say rượu đã đi ngủ, còn lại Hoàng Văn M và Hoàng Văn T vẫn ngồi ở nhà ông H uống nước. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, P quay lại nhà ông H thì gặp M và T, P hỏi M “sao chú về sớm thế”. M trả lời “hơn chín giờ rồi thì về, lúc nãy định đánh phỏm ăn sáng nhưng không ai chơi, mày có chơi thì ngồi”, hiểu ý M nên P, T đi vào phòng nhà ông H thì thấy có bộ bài tú lơ khơ 52 quân để trên chiếu đã trải sẵn trên nền nhà. Lúc này, K quay lại nhà ông H thấy M, T, P đang ngồi chia bài nên vào ngồi và thống nhất chơi đánh bạc ăn tiền dưới hình thức chơi “phỏm”.

Cách thức chơi “phỏm” và tỷ lệ thắng thua: Sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân, người chia bài được chia 10 quân bài và là người đánh đầu tiên, mỗi người chơi còn lại được chia 9 quân bài, số bài còn lại (gọi là “nọc”). Khi chơi người chia bài có 10 quân đánh trước và đánh theo thứ tự từ trái sang phải, người ngồi bên phải mà trên bài có 2 hoặc 3 quân có ký hiệu giống nhau (ví dụ ba quân 2) mà có thể ghép với quân bài của người ngồi bên trái đánh ra hoặc đánh cho người bên cạnh để ghép vào những quân bài đã có ký hiệu cùng chất (ví dụ cùng chất rô…) thì gọi là “phỏm”, người nào có “phỏm” mà chẵn bài không có quân thừa thì gọi là “ù”, nếu bài nào không có “phỏm” gọi là “móm”, sau khi hạ bài thì tính điểm (các quân bài từ 2 đến 10 tương ứng với số điểm từ 2 đến 10 điểm, quân A tương ứng với 1 điểm, quân J tương ứng với 11 điểm, quân Q tương ứng với 12 điểm, quân K tương ứng với 13 điểm). Trong một ván chơi, nếu bài của ai ít điểm nhất thì thắng, những người còn lại thua. Người thắng được ăn tiền của những người thua, cụ thể: Ăn của người về nhì 10.000 đồng, ăn của người về thứ ba 20.000 đồng, ăn của người về thứ tư 30.000 đồng, bài của người nào bị “móm” hoặc “cháy” (tức là bài không có “phỏm”) thì phải trả cho người về nhất 40.000 đồng, nếu bài người nào “ù” (tức là trên bài có 9 quân bài mà các cây đều vào “phỏm”, không có cây lẻ) thì ăn tiền của ba người còn lại, mỗi người 50.000 đồng. Nếu người nào ăn được cả ba cây của người ngồi bên trái thì gọi là “ù đền”, người ngồi bên phải chuẩn bị hạ bài mà đánh cho người bên trái thì gọi là “ăn chốt”. Trong quá trình chơi các đối tượng không chơi “ăn chốt” và “ù đền”. Tham gia đánh bạc Vũ Văn K sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, Hoàng Văn T sử dụng 420.000 đồng để đánh bạc, Hoàng Văn M sử dụng 160.000 đồng để đánh bạc, Nguyễn Văn P sử dụng 640.000 đồng để đánh bạc.

Đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an phường TT, thành phố Phủ Lý phát hiện.

* VËt chøng thu giữ gåm:

- Thu tại chiếu bạc số tiền 2.060.000đ gồm: (500.000đ của K sử dụng để đánh bạc; 420.000đ của T sử dụng để đánh bạc; 640.000đ của P sử dụng để đánh bạc; 500.000đ của M, M sử dụng 160.000đ để đánh bạc còn 340.000đ không sử dụng đánh bạc) được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.

- 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếu cói đã qua sử dụng.

- 01 đĩa sứ màu trắng.

- Thu của Vũ Văn K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen.

- Thu của Hoàng Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 206 màu đen.

- Thu của Hoàng Văn M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy J7.

- Thu của Nguyễn Văn P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus màu vàng.

Từ những nội dung trên, bản cáo trạng số: 163/CT-VKS-PL ngày 28/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn P và Vũ Văn K về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý luận tội: giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như đã nêu trong bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn P và Vũ Văn K phạm tội “Đánh bạc”.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn P và Vũ Văn K, mỗi bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

+ Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 321, Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Phạt các bị cáo P, K mỗi bị cáo từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

+ Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiên hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếu cói và 01 chiếc đĩa sứ màu trắng; tịch thu và sung Ngân sách Nhà nước: số tiền 1.720.000 đồng; trả lại Nguyễn Văn P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus màu vàng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen; trả lại Vũ Văn K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen; trả lại Hoàng Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 206 màu đen; trả lại Hoàng Văn M 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy J7 và số tiền 340.000 đồng.

- Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố và nhất trí với bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã công bố tại phiên tòa. Các bị cáo không tranh luận bào chữa gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Hoàng Văn H có ý kiến: Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếu cói và 01 chiếc đĩa sứ màu trắng là tài sản của gia đình ông, nay ông xác định không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tiêu hủy.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đánh giá về tội danh: Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử thấy cơ bản phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, diễn biến vụ án, vật chứng thu giữ cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được cơ quan điều tra thu thập.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 20/9/2018, tại tổ 6, phường TT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam. Nguyễn Văn P, Vũ Văn K, Hoàng Văn T và Hoàng Văn M có hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi “phỏm” được thua bằng tiền, thì bị lực lượng Công an phường TT, thành phố Phủ Lý phát hiện. Tổng số tiền Nguyễn Văn P, Vũ Văn K, Hoàng Văn T và Hoàng Văn M đánh bạc là 1.720.000đ dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng Nguyễn Văn P và Vũ Văn K còn có một tiền sự về hành vi “Đánh bạc” chưa được xóa. Do vậy hành vi nêu trên của Nguyễn Văn P và Vũ Văn K đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với các bị cáo Nguyễn Văn P và Vũ Văn K như bản cáo trạng đã nêu là có căn cứ, đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

Đánh giá về hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng trên địa bàn thành phố Phủ Lý, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm nguy hiểm khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Hành vi này nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ kéo theo nhiều hệ lụy cho gia đình và xã hội. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo bằng mức hình phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong cộng đồng.

Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo cùng tham gia đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền nên có vai trò ngang nhau trong vụ án.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo để áp dụng hình phạt cho phù hợp:

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu một tình tiết tăng nặng nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân: Các bị cáo có một tiền sự về hành vi đánh bạc, tuy nhiên số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, do vậy nhân thân của các bị cáo là căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy các bị cáo có nơi cư trú, có lý lịch rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung trong cộng đồng, đây cũng là thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét mục đích phạm tội của các bị cáo là đánh bạc để trục lợi bất chính về kinh tế nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo để áp dụng mức phạt cho phù hợp.

Về vật chứng:

- Đối với số tiền 1.720.000 đồng (K 500.000 đồng, P 640.000 đồng, T 420.000 đồng, M 160.000 đồng) các đối tượng sử dụng đánh bạc cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếu cói và 01 chiếc đĩa sứ màu trắng là tài sản, đồ vật của ông Hoàng Văn H các đối tượng sử dụng đánh bạc. Ông H xác định không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu và tiêu hủy.

- Đối với số tiền 340.000 đồng trong tổng số tiền 500.000 đồng thu của Hoàng Văn M là tài sản của M, không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần trả lại cho anh Hoàng Văn M.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen của Vũ Văn K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 206 màu đen của Hoàng Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 của Hoàng Văn M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus màu vàng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen của Nguyễn Văn P. Quá trình điều tra, xác định không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho các bị cáo Nguyễn Văn P, Vũ văn K và anh Hoàng Văn M, anh Hoàng Văn T.

Về các vấn đề khác:

- Đối với Hoàng Văn M và Hoàng Văn T cùng tham gia đánh bạc với Nguyễn Văn P và Vũ Văn K, M và T chưa có tiền án, tiền sự về các tội “Đánh bạc”, “Gá bạc” hay “Tổ chức đánh bạc”, số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, do vậy chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 17/10/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Phủ Lý ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Văn M và Hoàng Văn T là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với ông Hoàng Văn H là chủ nhà, khi các đối tượng đánh bạc ông H đã đi ngủ nên không biết, không có căn cứ để xử lý đối với ông H là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 47; Điều 50; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ các Điều 106; 135; 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[2] Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn P, Vũ Văn K phạm tội “Đánh bạc”.

[3] Xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Văn P 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao Nguyễn Văn P cho Ủy ban nhân dân phường TT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Bị cáo Vũ Văn K 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao Vũ Văn K cho Ủy ban nhân dân phường HBT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Phạt Nguyễn Văn P, Vũ Văn K mỗi bị cáo 2.000.000đ (hai triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếu cói, 01 chiếc đĩa sứ màu trắng.

- Tịch thu và sung Ngân sách Nhà nước: số tiền 1.720.000đ (một triệu bẩy trăm hai mươi ngàn đồng).

- Trả lại: Nguyễn Văn P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus màu vàng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen; Vũ Văn K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen; Hoàng Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 206 màu đen; Hoàng Văn M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy J7 và số tiền 340.000đ (ba trăm bốn mươi ngàn đồng).

( Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 29 tháng 11 năm 2018 và Ủy nhiệm chi số 74 lập ngày 30/11/2018).

[6] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn P, Vũ Văn K mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

[7] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ