- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Lê Thị Th với Nguyễn Trọng H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Th đối với anh Nguyễn Trọng H về việc ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 162/2018/HNGĐ-ST Ngày 30-11-2018 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, T NH B NH DƯ NG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hiếu Trọn;
2. Ông Nguyễn Đình Thế.
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Vân – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2018 tại Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1033/2018/TLST - HNGĐ ngày 25 tháng 9 năm 2018 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 174/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2018 giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Th, sinh năm 1987; Thƣờng trú: Thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: Số 40/22, khu phố T, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1989; Thƣờng trú: Thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: Số 40/22, khu phố T, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.
Chị Lê Thị Th có yêu cầu giải quyết vắng mặt, anh Nguyễn Trọng H vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 24/9/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Th và anh Nguyễn Trọng H tìm hiểu nhau thời gian 03 tháng thì tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận kết hôn số 24, quyển số 01/2012 ngày 15/3/2012. Sau khi kết hôn, anh chị sống tại xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, năm 2015 chuyển về quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống. Một thời gian sau, vợ chồng chuyển về địa chỉ số 40/22, khu phố T, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng sống cho đến nay. Thời gian đầu, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc nhƣng từ tháng 4 năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, tính tình ngày càng không hợp nhau, vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau về nhiều vấn đề trong cuộc sống, có lúc còn đánh nhau. Gia đình hai bên đều biết mâu thuẫn của anh chị, đã nhiều lần hàn gắn nhƣng không có kết quả. Hiện nay anh chị vẫn sống cùng nhà nhƣng mỗi ngƣời có 01 cuộc sống riêng, không còn quan tâm chăm sóc nhau, chị Lê Thị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Trọng H.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Thị H, sinh ngày 05/6/2014, hiện nay con đang sống chung với anh chị. Sau khi ly hôn, chị Lê Thị Th yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng cháu Nguyễn Thị H và không yêu cầu anh Nguyễn Trọng H cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Trọng H đã đƣợc Toà án thông báo tham gia tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng nhƣng anh Nguyễn Trọng H không đến Toà án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố nào, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Ngày 02/10/2018, Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống giữa chị Lê Thị Th và anh Nguyễn Trọng H tại địa phƣơng và đƣợc cung cấp: Chị Lê Thị Th và anh Nguyễn Trọng H là vợ chồng, cùng chung sống tại số 40/22, khu phố T, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Từ khi vợ chồng sống tại đây, địa phƣơng không nghe trình báo gì về mâu thuẫn giữa hai anh chị. Hiện nay anh chị vẫn còn sống chung tại địa phƣơng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã đƣợc thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án: nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự và có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.
+ Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Th.
+ Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cháu Nguyễn Thị H, sinh ngày 05/6/2014 cho chị Lê Thị Th trực tiếp nuôi dƣỡng và ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị Th không yêu cầu anh Nguyễn Trọng H cấp dƣỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về sự vắng mặt của các đƣơng sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 14/11/2018 và ngày 30/11/2018 nhƣng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Th và anh Nguyễn Trọng H tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận kết hôn số 24, quyển số 01/2012 ngày 15/3/2012 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Chị Lê Thị Th cho rằng từ tháng 4 năm 2018 vợ chồng bắt đầu có nhiều bất đồng, không có tiếng nói chung, tính tình ngày càng không hợp nhau, vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau về nhiều vấn đề trong cuộc sống, có lúc còn đánh nhau. Gia đình hai bên đều biết mâu thuẫn của anh chị, đã nhiều lần hàn gắn nhƣng không có kết quả. Hiện nay anh chị vẫn sống cùng nhà nhƣng mỗi ngƣời có 01 cuộc sống riêng, không còn quan tâm chăm sóc nhau.
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Trọng H đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh Nguyễn Trọng H không có mặt. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng của anh Nguyễn Trọng H đối với chị Lê Thị Th đã thực sự không còn và cả hai bên đều không muốn hàn gắn.
Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt đƣợc mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Việc anh Nguyễn Trọng H bỏ mặc không quan tâm đến hòa giải đoàn tụ để hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị Lê Thị Th cho thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị Lê Thị Th và anh Nguyễn Trọng H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu đƣợc ly hôn của chị Lê Thị Th.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thị H, sinh ngày 05/6/2014. Chị Lê Thị Th yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng cháu Nguyễn Thị H, không yêu cầu anh Nguyễn Trọng H phải cấp dƣỡng nuôi con. Xét thấy cháu H mặc dù sống cùng cha mẹ nhƣng cháu H là bé gái và hiện còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ. Do đó, chị Lê Thị Th yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung là phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị Lê Thị Th không yêu cầu anh Nguyễn Trọng H cấp dƣỡng nuôi con, xét đây là ý chí tự nguyện của chị nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Th phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Th đối với anh Nguyễn Trọng H về việc ly hôn.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Th đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Trọng H.
- Về con chung: Buộc anh Nguyễn Trọng H giao con chung tên Nguyễn Thị H, sinh ngày 05/6/2014 cho chị Lê Thị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị Th không yêu cầu anh Nguyễn Trọng H cấp dƣỡng nuôi con.
Sau ly hôn, chị Lê Thị Th và anh Nguyễn Trọng H đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh Nguyễn Trọng H lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc chị Lê Thị Th nuôi con thì chị có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí: Chị Lê Thị Th phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0020199, ngày 25/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Chị Lê Thị Th đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
4. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.
Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Dĩ An; - Chi cục THADS thị xã Dĩ An; - UBND xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; - Đƣơng sự; - Lƣu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Mỹ Dung |