- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mỹ T - Nguyễn Hữu V-Ly Hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ T.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1619/2026/HNGĐ-ST Ngày: 11/8/2026 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trương Thị Lệ Dung.
2. Bà Phạm Ngọc Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Nhẫm – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2026 tại cơ sở 1 Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 787/2026/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2026 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 900/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 652/2026/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1987; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: C L, Khu phố A, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: F T, khu phố A, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu V, sinh năm 1995; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; Tạm trú: F T, khu phố A, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/9/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Hữu V tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21/2019 ngày 18/3/2019.
Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm về cuộc sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Bà và ông V đã ly thân từ tháng 7/2023 đến nay. Bà xác nhận không còn tình cảm với ông V, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin ly hôn với ông V.
- Về quan hệ con chung: Bà và ông V có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Minh T1, sinh ngày 28/5/2019. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông V cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung : Bà xác nhận không có nợ chung.
Theo Bản tự khai của ông Nguyễn Hữu V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông xác nhận quá trình kết hôn, chung sống như bà T trình bày. Đối với ông thì không có mâu thuẫn gì cả vì gia đình nào cũng có những lục đục cãi vã trong cuộc sống. Ông xác định hai vợ chồng có ly thân. Ông không đồng ý ly hôn vì còn tình cảm và muốn được chung sống với vợ và con gái.
- Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Minh T1, sinh ngày 28/5/2019. Trường hợp Tòa án cho ly hôn, ông đồng ý giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng và ông không cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Ông xác nhận không có.
- Về nợ chung: Ông xác nhận không có.
Toà án đã tổ chức cho các bên hoà giải nhưng không tiến hành hòa giải được do ông V vắng mặt nên Toà án lập biên bản không tiến hành hoà giải được và đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Tại phiên toà hôm nay:
- Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn vắng mặt không có lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – TP . có ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo pháp luật được quy định tại Điều 48, Điều 51, Điều 63, Điều 203, Từ Điều 239 đến Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể: Bà T được ly hôn với ông V. Con chung Nguyễn Ngọc Minh T1, sinh ngày 28/5/2019 giao cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông V do bà T không yêu cầu. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận giải quyết. Về nợ chung: Ghi nhận lời khai của hai bên là không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 21/2019 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk cấp cho bà Nguyễn Thị Mỹ T và ông Nguyễn Hữu V thì quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông V là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Ông V có nơi cư trú tại phường A, Thành phố Hồ Chí Minh, nay bà T yêu cầu ly hôn, Toà án nhân dân Khu vực 9 – TP . thụ lý giải quyết là phù hợp với khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục xét xử vắng mặt nguyên đơn: Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà T.
Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông V nhưng ông V vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông V.
Về yêu cầu của đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà T yêu cầu ly hôn ông V, do vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ nhau trong cuộc sống.
Xét, trong quá trình hòa giải cũng như tại phiên tòa, bà T xác nhận không còn tình cảm và không muốn tiếp tục chung sống với ông V. Nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Bà T và ông V đã ly thân từ tháng 7/2023 đến nay. Nay bà xác nhận hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng nên bà yêu cầu được ly hôn với ông V.
Xét, ông V có lời khai vẫn muốn chung sống cùng vợ và con gái nhưng khi Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng thì ông V vắng mặt. Điều đó thể hiện ông V không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy, nguyên tắc cơ bản của hôn nhân là tự nguyện, mục đích hôn nhân là “vợ chồng cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc”, trong trường hợp này giữa bà T và ông V đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.
- Về quan hệ con chung: Bà T và ông V có con chung tên Nguyễn Ngọc Minh T1, sinh ngày 28/5/2019. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông V cấp dưỡng.
Xét việc giao các con chung cho ai là người trực tiếp nuôi dưỡng phải đảm bảo lợi ích mọi mặt của trẻ. Do đó, để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung cũng như phù hợp với nguyện vọng của con chung, nên giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên có cơ sở chấp nhận.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông V do bà T không yêu cầu.
- Về quan hệ tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Các vấn đề khác: Hai bên xác nhận không có.
Về án phí
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, số tiền án phí trên được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0025007 ngày 20/4/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ T được ly hôn với ông Nguyễn Hữu V.
Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông V theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21/2019 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk cấp cho bà T và ông V chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Minh T1, sinh ngày 28/5/2019 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông V do bà T không yêu cầu.
+ Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa giải quyết.
+ Ông V được quyền thăm nom con, không ai được cản trở.
+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức (người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội L), Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Các vấn đề khác: Hai bên xác nhận không có.
2. Về án phí:
Bà T chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, số tiền án phí trên được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0025007 ngày 20/4/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo:
Bà Nguyễn Thị Mỹ T và ông Nguyễn Hữu V được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP . HCM; - VKSND Khu vực 9 – TP. HCM; - THADS TPHCM ; - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Lưu VP, hồ sơ ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thị Ngọc Phượng |