- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đường Quốc C - Tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Đường Quốc C phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – HÀ NỘI --------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 161 /2026/HS-ST Ngày 10/03/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thanh Hậu
Bà Hoàng Phương Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Ánh, là thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đỗ Tuấn Long - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 03 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 148/2026/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2026 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2026/QĐ- ST ngày 26 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ tên: Đường Quốc C, sinh năm 1991; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; HKTT: Số E ngõ B T, phường C, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đường Quốc H; con bà: Đặng Lan P; Vợ: Lưu Xuân H1 (ly hôn); Có 02 con: Lớn sinh năm 2015 nhỏ sinh năm 2019; D bản, chỉ bản số 6129 lập ngày 19/11/2025 tại Công an Thành phố Hà Nội; nhân thân: Tiền án, tiền sự: không
* Nhân thân:
- Bản án số 143 ngày 23/6/2016 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xác minh thi hành án xác định, C đã chấp hành xong. (đã được xóa án tích)
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 06/11/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 – Công an Thành phố Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 06/11/2025 tại ngã ba H - P, phường N, thành phố Hà Nội, tổ công tác Công an phường N đang phối hợp Đội Cảnh sát giao thông số 6 – Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố Hà Nội tuần tra kiểm soát thì phát hiện Dương Quốc C1 đang điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios màu vàng, BKS 29H – 985.36 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong túi đeo của C1 có 01 túi nilong màu hồng, kích thước 5x7 (cm) bên trong chứa tinh thể màu trắng. C1 khai nhận tinh thể màu trắng nêu trên là ma túy đá, C1 mang theo để tìm nơi sử dụng. Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng, niêm phong tang vật và đưa C1 cùng vật chứng về trụ sở để điều tra làm rõ.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 túi nilong màu hồng kích thước 5x7 cm bên trong có chứa tinh thể trắng;
- 01 chiếc túi bằng da màu đen;
- 01 điện thoại di động Nokia 105 màu xanh;
- 01 chiếc ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, màu vàng, BKS: 29H 985.36
Tại Bản kết luận giám định số 7940 ngày 15/11/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội, kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông màu hồng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 4,565 gam”.
Tại Bản kết luận giám định số 8342 ngày 02/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội, kết luận:
“1. Xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS đeo biển kiểm soát: 29H – 985.36 có số khung: RL4B28F36L5097765 và số máy: 2NR X645026 là số nguyên thủy.
2. Không giám định 02 (hai) biển kiểm soát: 29H – 985.36 do không có mẫu so sánh”.
Quá trình điều tra, xác định:
Bản thân Đường Quốc C có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên khoảng 14 giờ15 phút ngày 06/11/2025, khi C dừng xe chở khách ở đường N, C gặp 01 người đàn ông khoảng 45 tuổi, tóc cắt ngắn, cao khoảng 1m60, mặc quần dài màu đen, áo khoác ngoài màu xanh. C hỏi người này có hàng bán không thì người trên hiểu C hỏi mua ma túy. Người đàn ông hỏi lại C mua bao nhiêu, dạng gì? C trả lời mua 2.500.000 đồng, dạng đá. Người đàn ông đồng ý và đi đâu đó khoảng 15 phút thì quay lại và chỉ C đi vào khu vực bãi cỏ trên đường N để lấy ma túy đá mà anh ta đã cất giấu. Tại đây C lấy được 01 túi nilon màu hồng, kích thước khoảng 5x7 (cm) bên trong chứa tinh thể màu trắng. C cất giấu túi nilon nêu trên vào trong túi đeo của C và lái xe đi tìm nơi để sử dụng. Khi C di chuyển đến ngã ba H - P thì bị tổ công tác Công an phường N phát hiện, bắt giữ và đưa về trụ sở để làm việc.
Tiến hành xét nghiệm nước tiểu đối với Đường Quốc C: Dương tính với Methamphetamine. Quá trình điều tra, xác minh tại Công an phường C xác định C không nằm trong diện quản lý liên quan đến ma túy.
Tiến hành dẫn giải Đường Quốc C đến vị trí mua ma túy: C chỉ được địa điểm mua ma túy tại trước số G đường N, thành phố Hà Nội. Tiến hành rà soát không phát hiện được đối tượng bán ma túy cho Đường Quốc C nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios màu nâu vàng, biển kiểm soát 29H – 985.36: Quá trình điều tra xác định xe ô tô nêu trên đứng tên đăng ký của ông Đường Quốc H (Sinh năm 1960; Trú tại: Phường N, thành phố Hà Nội – là bố đẻ của Đường Quốc C). Ông H khai mua chiếc xe trên vào khoảng năm 2020, đến tháng 5/2024, ông cho Đường Quốc C mượn để sử dụng làm phương tiện chở khách kiếm tiền nuôi gia đình. Việc C dùng xe ô tô đi mua ma túy về để sử dụng ông H hoàn toàn không biết. Ngày 03/02/2026, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 5658 trao trả 01 xe ô tô nêu trên cho ông Đường Quốc H.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên.
Bản cáo trạng số 334/CT - VKS ngày 11/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Hà Nội quyết định truy tố bị cáo Đường Quốc C về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo từ 48 tháng đến 54 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilong màu hồng kích thước 5x7 cm bên trong có chứa tinh thể trắng; 01 chiếc túi bằng da màu đen;
+ Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động Nokia 105 màu xanh
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016 của U về mức thu, miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự 200.000 đồng quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra – Công an Thành phố Hà Nội; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Hà Nội , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 15 giờ ngày 06/11/2025 tại ngã ba H - P, phường N, Thành phố Hà Nội, Đường Quốc C có hành vi cất giấu trái phép 4,565gam là ma túy Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường N phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Hà Nội truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo làm nghề lái xe biết rõ ma tuý là chất gây nghiện, làm tổn hại đến sức khoẻ, bị cáo sử dụng ma túy khi tham gia giao thông sẽ mất an toàn cho bản thân bị cáo, hành khách và người đi đường. Mặt khác, ma túy còn làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, Đảng và Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo đã được pháp luật giáo dục nhưng vẫn tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý, mặc dù nhân thân của bị cáo có một bản án đã được xóa án tích nhưng đủ thấy thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cách ly bị cáo khỏi đời sống chung xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, HĐXX cũng xem xét thái độ khai báo thành khẩn khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [3]. Về tình tiết tăng nặng: Không [4].Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
.Về vật chứng vụ án: Số ma túy đã thu giữ là vật cấm lưu hành, 01 túi da, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động đã thu giữ là của bị cáo, không sử dụng vào việc mua ma túy nên trả lại cho bị cáo theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. [6].Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố: bị cáo Đường Quốc C phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. 2. Xử phạt: Bị cáo Đường Quốc C 48 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 06/11/2025. Căn cứ các Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Q;
3. Vật chứng vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01(Một) Phong bì niêm phong dán kín các mép, có chữ ký của GĐV Trần Ngọc C2, cán bộ CAP Phan Tuấn D1, đương sự Đường Quốc C. Phong bì không có dấu của Công an phường.
+ 01( một) chiếc túi bằng da màu đen đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
- Tịch thu sung công :
+ 01(một) điện thoại di động Nokia 105, màu xanh (Tại thời điểm bàn giao. Máy đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng, tình trạng máy.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 282/26 ngày 09/03/2026 giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an Thành phố Hà Nội với Thi hành án dân sự Khu vực 4 – Hà Nội)
5. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Những người tham gia tố tụng - VKS ND Khu vực 4 – Hà Nội - Công an Thành phố Hà Nộià Nội - THA dân sự khu vực 4 – Hà Nội - Lưu HS | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Tuyết |