- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về con chung: Giao cháu Hồ Khánh V – sinh ngày 02/10/2023 cho ông Hồ Phong B tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 161/2026/HNGĐ-ST Ngày: 25/5/2026. V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc.
2. Ông Lê Hữu Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Diễm Trang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang tham gia phiên toà: Ông Danh Vũ Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 49/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 01 năm 2026, về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 168/2026/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ông Hồ Phong B - sinh năm 1994, có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: ấp V, xã V, tỉnh An Giang. 2. Bị đơn: Bà Võ Thị Sơn C - sinh năm 2003, vắng mặt.
Địa chỉ: ấp V, xã V, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/12/2025, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn ông Hồ Phong B như sau:
Ông và bà Võ Thị Sơn C cưới nhau vào đầu năm 2020, hôn nhân tự nguyện, vợ chồng ông bà có tổ chức đám cưới theo phong tục và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang vào ngày 24/02/2022.
Vợ chồng sống chung hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do sau khi vợ ông sinh con xong, vợ ông đòi theo ông đi thành phố làm nhưng ông không đồng ý vì con còn quá nhỏ, ông tính đợi con lớn sẽ dẫn vợ cùng đi làm nhưng vợ ông không đồng ý nên hai bên xảy ra cự cãi. Sau đó, bên gia đình vợ ông qua rước vợ ông về nói trị bệnh và cho đến nay không quay lại. Vợ ông để con lại cho ông nuôi dưỡng. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 11/2023 cho đến nay. Hiện vợ chồng không còn khả năng chung sống với nhau được nữa và ông không còn tình cảm với bà Võ Thị Sơn C nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Võ Thị Sơn C.
Thời gian chung sống vợ chồng ông bà có 01 người con chung tên Hồ Khánh V – sinh ngày 02/10/2023, hiện nay ông đang nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Vợ chồng ông bà không có tài sản chung.
Về nợ chung: Ông cam đoan vợ chồng ông bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyện vọng:
Về hôn nhân: Ông xin được ly hôn với bà Võ Thị Sơn C.
Về con chung: Ông xin tiếp tục nuôi con chung tên Hồ Khánh V – sinh ngày 02/10/2023 và không yêu cầu bà Võ Thị Sơn C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Võ Thị Sơn C đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng bà Võ Thị Sơn C không đến Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của bà Võ Thị Sơn C.
- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang tại phiên tòa: Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ kiện; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không có lý do là không tuân thủ pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho ông Hồ Phong B được ly hôn với bà Võ Thị Sơn C. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Hồ Khánh V – sinh ngày 02/10/2023 cho ông Hồ Phong B tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên Viện kiểm sát không có đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa ông Hồ Phong B và bà Võ Thị Sơn C là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025.
Ông Hồ Phong B có đơn xin xét xử vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của ông Hồ Phong B không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử cũng như nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Hồ Phong B.
Bà Võ Thị Sơn C là bị đơn trong vụ án, bà Võ Thị Sơn C có địa chỉ rõ ràng, đó cũng là nơi bà đăng ký hộ khẩu thường trú, hiện nay bà Võ Thị Sơn C vẫn còn hộ khẩu thường trú ở địa chỉ trên. Tòa án đã niêm yết các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bà Võ Thị Sơn C vắng mặt tại phiên tòa 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Võ Thị Sơn C. [2] Về hôn nhân: Ông Hồ Phong B và bà Võ Thị Sơn C cưới nhau vào năm 2020, hôn nhân tự nguyện, vợ chồng ông bà có tổ chức đám cưới theo phong tục và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 27/2022, ngày 24/02/2022, như vậy Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của ông Hồ Phong B và bà Võ Thị Sơn C là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. [3] Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Tuy hôn nhân của ông Hồ Phong B và bà Võ Thị Sơn C là hôn nhân tự nguyện, ông bà sống hạnh phúc đến từ năm 2020 đến năm 2023 và có 01 người con chung. Tuy nhiên, ông bà đã phát sinh tranh chấp không tự giải quyết được. Ông Hồ Phong B cho rằng sau khi vợ ông sinh con xong, vợ ông đòi theo ông đi thành phố làm nhưng ông không đồng ý vì con còn quá nhỏ, ông tính đợi con lớn sẽ dẫn vợ cùng đi làm nhưng vợ ông không đồng ý nên hai bên xảy ra cự cãi. Sau đó, bên gia đình vợ ông qua rước vợ ông về nói trị bệnh và cho đến nay không quay lại. Vợ ông để con lại cho ông nuôi dưỡng. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 11/2023 cho đến nay. Ngày 23/3/2026 và ngày 09/4/2026, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng bà Võ Thị Sơn C vắng mặt. Xét thấy, vợ chồng ông bà đã ly thân tính đến ngày xét xử hơn 02 năm, trong thời gian ly thân ông Hồ Phong B và bà Võ Thị Sơn C không còn liên lạc với nhau, khi Tòa án mời bà Võ Thị Sơn C đến Tòa án để hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ thì bà Võ Thị Sơn C không có mặt cho thấy bà Võ Thị Sơn C không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này và cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được. Ông Hồ Phong B cương quyết xin ly hôn với bà Võ Thị Sơn C và tỏ rõ thái độ không còn tình cảm yêu thương bà Võ Thị Sơn C, vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Hồ Phong B.
Về con chung: Ông Hồ Phong B và bà Võ Thị Sơn C có 01 người con chung tên Hồ Khánh V – sinh ngày 02/10/2023, hiện nay ông đang nuôi dưỡng.
Bà Võ Thị Sơn C không có ý kiến về quyền nuôi con. Ông Hồ Phong B yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Hồ Khánh V – sinh ngày 02/10/2023, Cháu V đã sống cùng ông Phong B từ ngày 28/11/2023 cho đến nay, phía bà Võ Thị Sơn C không thăm nom con, cũng không cấp dưỡng nuôi con cho thấy bà Võ Thị Sơn C không quan tâm đến cháu V nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Hồ Phong B.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Hồ Phong Ba K yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Hồ Phong Ba K yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Tại phiên tòa sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí HNGĐST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Ông Hồ Phong B phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 393 ngày 16/01/2026, của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình; Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025; Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. 1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Phong B. Về hôn nhân: Xử cho ông Hồ Phong B ly hôn với bà Võ Thị Sơn C.
Về con chung: Giao cháu Hồ Khánh V – sinh ngày 02/10/2023 cho ông Hồ Phong B tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Bà Võ Thị Sơn C được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được phép cản trở bà thực hiện quyền này.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Hồ Phong B phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 393 ngày 16/01/2026, của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. 3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -TAND tỉnh; -VKSND cùng cấp; -THADS tỉnh; -Các đương sự; -UBND xã Vĩnh Tuy; -Lưu hồ sơ. | Phan Thị Thùy Trang |