- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nghiêm Văn K bị truy tố tội "Chứa mại dâm" - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nghiêm Văn K phạm tội “Chứa mại dâm”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 161/2025/HS-ST Ngày: 15-9-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Chính.
Ông Nguyễn Văn Năm.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Thùy – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 138/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:
Nghiêm Văn K, sinh ngày 08 tháng 4 năm 1972 tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký thường trú: thôn B, xã N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (nay là thôn B, phường N, tỉnh Thanh Hóa); Nơi cư trú: thôn B, xã N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (nay là thôn B, phường N, tỉnh Thanh Hóa); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nghiêm Văn K1, sinh năm 1948 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1950; Gia đình bị cáo có 07 anh, chị, em; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Có vợ tên Trần Thị H, sinh năm 1976 và có 03 con (lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1998);
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt truy nã ngày 27/4/2025 và bị giam cho đến nay tại Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh Đồng Nai (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nghiêm Văn K là chủ quán cà phê không tên tại địa chỉ tổ 9, khu phố C, phường P, tỉnh Đồng Nai.
Khoảng tháng 9 năm 2024, Lê Thị Thu H1 (thường trú tại tỉnh Bình Định) đến quán cà phê của K để xin làm nhân viên và được K đồng ý. Tại đây, K thoả thuận cho H1 sử dụng quán cà phê của mình để bán dâm và kích dục cho khách. Đối với hoạt động bán dâm giá 400.000 đồng/01 khách/01 lần, H1 hưởng 200.000 đồng, 20.000 đồng tiền nước còn K hưởng 180.000 đồng tiền chứa mại dâm; còn đối với hoạt động kích dục giá 250.000 đồng/01 khách/01 lần, H1 hưởng 100.000 đồng, tiền nước 20.000 đồng và K hưởng 130.000 đồng.
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/9/2024, K đang ở quán cà phê thì có Nguyễn Văn T (thường trú xã X, tỉnh Đồng Nai) đến gặp K thoả thuận muốn mua dâm và được K chỉ xuống chòi thứ 3 trong quán rồi nói Lê Thị Thu H1 đi ra chòi bán dâm cho khách. H1 đi đến chòi thứ 3 gặp T thoả thuận giá bán dâm là 400.000 đồng, thì T đồng ý nên H1 tiến hành bán dâm cho T.
Khoảng 14 giờ 10 phút, Công an phường P kiểm tra hành chính quán cà phê của K, thời điểm kiểm tra không có mặt K, tại chòi thứ 3 phát hiện Lê Thị Thu H1 đang bán dâm cho T.
Ngoài ra tại chòi thứ 2 còn phát hiện Trịnh Thị A (thường trú: xã Như Thanh, tỉnh Thanh Hoá) đang bán dâm cho Huỳnh Văn P1 (thường trú: phường D, tỉnh Đồng Nai) với giá 400.000 đồng/lượt. Trịnh Thị A khai là nhân viên của Quán cà phê 666 thuộc tổ 24, khu phố B, phường P do Nghiêm Văn K2 làm chủ. Ngày 15/9/2024, A được Nghiêm Văn K2 (con trai của Nghiêm Văn K) điều đến quán cà phê của K để tiếp khách (bán dâm). Khi đến quán, A vào chòi thứ nhất gặp ông P1 thoả thuận giá bán dâm là 400.000 đồng và yêu cầu đưa tiền trước thì ông P1 đồng ý nên A tiến hành bán dâm cho Phước.
Quá trình điều tra, Nghiêm Văn K khai nhận chỉ cho Lê Thị Thu H1 bán dâm một lần vào ngày 15/9/2024 và hưởng lợi 180.000 đồng. Trước đó, Nghiêm Văn K còn 04 (bốn) lần cho Lê Thị Thu H1 thực hiện hành vi kích dục cho khách và hưởng lợi số tiền 520.000 đồng. Đối với Trịnh Thị A thì K không thừa nhận cho A bán dâm trong quán của mình.
Vật chứng thu giữ:
- 01 bao cao su nhãn hiệu OK màu đỏ,
- 01 võng lưới bằng cước màu cam dài 2,4m,
- 01 miếng lót dạng tấm xốp màu xanh dày 1cm, kích thước 90cm x 200cm;
- 02 hộp khăn giấy ướt màu trắng hồng (không có nhãn hiệu) đã qua sử dụng
- Số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) thu của Trịnh Thị A là tiền sử dụng vào việc mua bán dâm.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nghiêm Văn K thừa nhận hành vi sử dụng quán cà phê thuộc quyền quản lý của mình để cho Lê Thị Thu H1 thực hiện hành vi bán dâm cho người khác thì bị bắt quả tang. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Nghiêm Văn K không có ý kiến khiếu nại đối với các quyết định, hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng.
Bản cáo trạng số 124/CT-VKSKV1 ngày 22/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai truy tố bị cáo Nghiêm Văn K về tội “Chứa mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nghiêm Văn K thừa nhận hành vi sử dụng quán cà phê thuộc quyền quản lý của mình để cho Lê Thị Thu H1 thực hiện hành vi bán dâm cho người khác thì bị bắt quả tang. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung vụ án, nội dung Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.
Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nghiêm Văn K về tội “Chứa mại dâm”; đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017);
Xử phạt: Bị cáo Nghiêm Văn K từ 02 (hai) năm tù đến 03 (ba) năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 920.000 đồng tiền thu lợi bất chính.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao cao su nhãn hiệu OK màu đỏ, 01 võng lưới bằng cước màu cam dài 2,4m, 01 miếng lót dạng tấm xốp màu xanh dày 1cm, kích thước 90cm x 200cm; 02 hộp khăn giấy ướt màu trắng hồng (không có nhãn hiệu) đã qua sử dụng và không có giá trị sử dụng.
- Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.
Bị cáo Nghiêm Văn K nói lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo do thiếu hiểu biết nên chỉ suy nghĩ ai vi phạm thì người đó chịu trách nhiệm chứ bị cáo cũng không có ý định hay ép buộc ai phải thực hiện. Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về quê hương.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đồng Nai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trên cơ sở tài liệu chứng cứ và lời khai tại tòa của bị cáo có đủ cơ sở xác định:
Nghiêm Văn K là chủ quán cà phê không tên có địa chỉ tại tổ 9, khu phố C, phường P, tỉnh Đồng Nai. Ngày 15/09/2024, K đồng ý cho Lê Thị Thu H1 bán dâm cho Nguyễn Văn T 01 lần với giá 400.000 đồng và hưởng lợi 180.000 đồng thì bị bắt quả tang. Ngoài ra K còn thừa nhận 04 lần cho H1 sử dụng quán cà phê để kích dục cho khách và K hưởng lợi 520.000 đồng đã tiêu xài hết.
Do đó, hành vi của bị cáo Nghiêm Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm đạo đức xã hội và là nguyên nhân làm lây truyền các loại virus gây bệnh nguy hiểm, gây dư luận và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Mại dâm là tệ nạn xã hội mà Nhà nước đang đấu tranh loại bỏ nhằm bảo vệ sức khỏe của nhân dân và xây dựng nếp sống văn minh, lành mạnh. Bản thân bị cáo là người trưởng thành biết rõ việc hành vi chứa chấp mại dâm là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội, nên cần có mức hình phạt nghiêm để răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có chú ruột và mẹ được tặng Huân, Huy chương kháng chiến hạng nhì, hạng ba là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về biện pháp tư pháp:
- Số tiền 400.000 đồng mua bán dâm và 520.000 đồng tiền thu lợi bất chính cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
- 01 bao cao su nhãn hiệu OK màu đỏ, 01 võng lưới bằng cước màu cam dài 2,4m; 01 miếng lót dạng tấm xốp màu xanh dày 1cm, kích thước 90cm x 200cm; 02 hộp khăn giấy ướt màu trắng hồng (không có nhãn hiệu, đã qua sử dụng) sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác:
Hành vi của Nghiêm Văn K cho Lê Thị Thu H1 bốn lần thực hiện hành vi kích dục cho khách, Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Đồng Nai đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng hoạt động tình dục khác làm phương thức kinh doanh” nên không đặt ra xem xét.
Về việc Trịnh Thị A khai ngày 15/9/2024 đến quán cà phê của K để bán dâm theo yêu cầu của Nghiêm Văn K2 nhưng K không thừa nhận hành vi chứa chấp A bán dâm. Đối với Nghiêm Văn K2, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh địa chỉ nhưng chưa có kết quả. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã tách hành vi và tài liệu liên quan, đã thụ lý tin báo để tiếp tục điều tra xử lý theo quy định pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai truy tố bị cáo Nghiêm Văn K về tội “Chứa mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nghiêm Văn K phạm tội “Chứa mại dâm”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017);
Xử phạt: Bị cáo Nghiêm Văn K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 920.000 đồng là tiền sử dụng vào việc phạm tội và tiền thu lợi bất chính.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su nhãn hiệu OK màu đỏ, 01 võng lưới bằng cước màu cam dài 2,4m; 01 miếng lót dạng tấm xốp màu xanh dày 1cm, kích thước 90cm x 200cm; 02 hộp khăn giấy ướt màu trắng hồng (không có nhãn hiệu) đã qua sử dụng không có giá trị sử dụng
(Số vật chứng đang lưu giữa tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Đồng Nai theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/8/2025 và số tiền đang lưu giữ tại Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai theo Biên lai thu tiền số 0000259 ngày 29/8/2025).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Luật phí và lệ phí năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nghiêm Văn K phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nghiêm Văn K được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - VKSND khu vực 1 – Đồng Nai; - Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Đồng Nai; - Bị cáo. - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Anh Đức |