- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Viết Q và đồng bọn phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Viết Q, Nguyễn Viết T1 và Dương Văn T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH ****** | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 161/2023/HSST Ngày 26 tháng 07 năm 2023 “Nguyễn Viết Q cùng đồng bọn mua bán trái phép chất ma tuý” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
+ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Thế Bình.
+ Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cường, ông Nguyễn Việt Trung.
+ Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Châm- Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh mở phiên toà sơ thẩm xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 170/2023/HSST ngày 12 tháng 7 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/QĐXX ngày 14/7/2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Viết Q - Sinh năm 1993; Giới tính: Nam.
+ HKTT: Khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
+ Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
+ Bố: Nguyễn Viết Đ, sinh năm 1966; Mẹ: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1965.
+ Gia đình có 03 chị em, bị cáo là thứ 3.
+ Vợ: Phạn Thị L, sinh năm 1993; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016.
+ Tiền án: Ngày 24/3/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo chưa chấp hành hình phạt bổ sung là phạt tiền.
+ Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/03/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
2. Nguyễn Viết T1 - Sinh năm 1994; Giới tính: Nam.
+ HKTT: Khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
+ Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
+ Bố: Nguyễn Viết T, sinh năm 1974; Mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1973.
+ Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ 1.
+ Vợ: Vi Thị D, sinh năm 1996; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018.
+ Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/03/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
3. Dƣơng Văn T2 - Sinh năm 2002; Giới tính: Nam.
+ HKTT: Xóm T, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
+ Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
+ Bố: Dương Văn Ng, sinh năm 1970; Mẹ: Dương Thị Th, sinh năm 1969.
+ Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ 2.
+ Vợ, con: Chưa có.
+ Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 26/02/2021 bị Công an Thị trấn Hương Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc”.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/03/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 28/3/2023, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Bắc Ninh tuần tra tại khu T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh phát hiện Dương Văn T2, sinh năm 2002, trú tại: Khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh và Hoàng Văn T3, sinh năm sinh năm 1994, HKTT: Thôn L, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn có biểu hiện mua, bán trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra, T3 tự nguyện giao nộp 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, T3 khai túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng T3 vừa mua của T2 với giá 200.000. Lực lượng Công an đã niêm phong túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng vào 01 phong bì thư (kí hiệu M1). T2 tự nguyện giao nộp 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng là tiền vừa bán ma túy cho T3. Lực lượng Công an đã niêm phong 200.000 đồng vào trong bì thư (kí hiệu M2); Ngoài ra cơ quan công an còn thu giữ của T2 01 điện thoại nhãn hiệu IPhone 13 Promax màu xanh, bên trong lắp sim thuê bao số 0964.547.xxx.
Tại Cơ quan điều tra, T2 khai nhận nguồn gốc gói ma túy bán T2 cho T3 là T2 mua của Nguyễn Viết Q, sinh năm 1993, HKTT: Khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh do Q bảo Nguyễn Viết T1, sinh năm 1994, HKTT: Khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh đưa cho vào sáng ngày 28/3/2023.
Căn cứ lời khai của T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Viết Q và Nguyễn Viết T1, thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng lắp sim 0973.889.xxx của Q và 01 điện thoại nhãn hiệu LG màu đen lắp sim 0865.262.xxx của T1.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Dương Văn T2 và Nguyễn Viết T1 đều tại Khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Viết Q thu giữ:
- Trên mặt tủ lạnh phòng bếp có 01 hộp nhựa màu xanh, bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa 11 túi nilon màu trắng, trong mỗi túi đều có 01 viên nén màu đỏ cùng chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng chứa 07 viên nén màu xanh. Lực lượng Công an đã niêm phong vào bì thư ký hiệu N1.
- Trong túi quần bò màu đen của Q tại tủ quần áo tầng một có 01 túi nilon trắng, bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa 13 viên nén màu đỏ; 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu vàng. Lực lượng Công an đã niêm phong vào bì thư ký hiệu N2.
- Tại ghế da thẳng cửa ra vào tầng 01 có 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa các chất tinh thể màu trắng. Lực lượng Công an đã niêm phong vào bì thư ký hiệu N3.
Tại Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Ninh Dương Văn T2, Nguyễn Viết T1 và Nguyễn Viết Q đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Chiều tối ngày 27/3/2023, Q đi đến địa bàn TP Hà Nội với mục đích tìm mua ma túy để bán lại kiếm lời, tại đây Q gặp và mua của một người đàn ông lạ mặt 2.000.000đ tiền ma túy “Đá”, “Ngựa” được đựng trong các túi nilon dưới dạng chất tinh thể trắng, chất bột màu vàng và các viên nén. Sau khi mua được ma túy, Q đem về nhà chia thành các túi nhỏ rồi cất giấu. Do T1 ở cùng nhà với Q nên Q nói với T1 về việc Q cất ma túy ở trong 01 hộp nhựa màu xanh để trên mặt tủ lạnh trong bếp, ai hỏi mua thì T1 bán và được T1 đồng ý.
Khoảng 10 giờ sáng ngày 28/3/2023, Dương Văn T2 nhắn tin zalo cho Q với nội dung “Cho em mượn một túi hai cho khách” (Q hiểu ý T2 muốn mua ma túy). Do Q không ở nhà nên đã bảo T2 liên hệ T1 để lấy ma túy, T2 đồng ý và đã liên hệ zalo với T1. T1 hẹn T2 qua nhà Q để lấy ma túy, sau đó T1 lấy ở hộp nhựa màu xanh trên mặt tủ lạnh phòng bếp 02 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng rồi để 01 túi ở dưới gạt tàn thuốc lá trên bàn phòng khách, còn 01 túi để ở dứoi ghế da thẳng cửa ra vào tầng một. Khi T2 đến, T1 chỉ cho T2 01 túi ở dưới gạt tàn thuốc lá trên bàn phòng khách, T2 tự lấy rồi đi về. Khoảng 10 giờ 30 phút, T2 đi đến khu Thái Bảo, phường Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh thì gặp Hoàng Văn T3. T3 hỏi T2 có ma túy không, bán cho 200.000đ, T2 bảo có. T3 đưa cho T2 200.000đ, T2 cầm ở tay trái và đưa cho T3 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Đúng lúc này, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Bắc Ninh tuần tra tại khu T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh phát hiện Dương Văn T2 và Hoàng Văn T3 có biểu hiện mua bán trái phép chất ma túy và đã thu giữ vật chứng như trên.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định toàn bộ số ma túy và 200.000đ thu giữ được.
Kết quả trưng cầu giám định, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:
Tại bản Kết luận giám định số: 788/KL-KLHS ngày 30/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
- Chất tinh thể màu trắng bên trong bì thư M1 có khối lượng 0,0564g; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine;
- 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ bên trong bì thư M2 là tiền thật
Tại bản Kết luận giám định số: 787/KL-KLHS ngày 30/3/2023 của Phòng kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
- 11 viên nén màu đỏ bên trong bì thư N1 có khối lượng là 0,9050g; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine;
- 07 viên nén màu xanh bên trong bì thư N1 có khối lượng là 0,5998g; Là ma
túy; Loại ma túy: Methamphetamine;
- Chất tinh thể màu trắng bên trong bì thư N1 có khối lượng là 0,3208g; Là ma
túy; Loại ma túy: Methamphetamine;
- 13 viên nén màu đỏ bên trong bì thư N2 có khối lượng là 1,1980g; Là ma túy;
Loại ma túy: Methamphetamine;
- Chất bột màu vàng bên trong bì thư N2 có khối lượng là 0,0315g; Là ma túy;
Loại ma túy: Methamphetamine;
- Chất tinh thể màu trắng bên trong bì thư N2 có khối lượng là 0,4576g; Là ma
túy; Loại ma túy: Methamphetamine;
- Chất tinh thể màu trắng bên trong bì thư N3 có khối lượng là 0,0916g; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine;
(Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất).
Với nội dung trên, tại Bản cáo trạng số: 130/CT- VKSTPBN ngày 11/7/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh truy tố Nguyễn Viết Q, Nguyễn Viết T1 và Dương Văn T2 tội “Mua bán trái phép chất ma tuy “ theo khoản 1 Điều 251 của BLHS.
Tại phiên tòa các bị cáo Dương Văn T2, Nguyễn Viết Q, Nguyễn Viết T1 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo T2 thừa nhận gói ma túy cơ quan điều tra thu được của T3 là do bị cáo bán cho T3 và có nguồn gốc bị cáo mua của Q và do T1 đưa cho bị cáo. Bị cáo Q thừa nhận gói ma túy T2 bán cho T3 và các gói ma túy thu giữ được tại chỗ ở của bị cáo tại khu Giang Liễu, p Phương Liễu là của bị cáo do bị cáo mua của một người đàn ông không quen biết tại thu đô Hà Nội đem về chia nhỏ với mục đích bán kiếm lời, bị cáo Q, bị cáo T2 thừa nhận hàng vi của bản thân đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo T1 thừa nhận hành vi giúp Q đưa gói ma túy cho T2 vào sáng ngày 28/3/2023 tại nhà của Nguyễn Viết Q là đồng phạm giúp sức cho Nguyễn Viết Q trong việc bán trái phép chất ma túy, Viên kiểm sát truy tố các bị cáo tội Mua bán trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Tại phiên tòa, sau khi đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò tham gia tội phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Viết Q, Nguyễn Viết T1 và Dương Văn T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 47, Điều 58 của BLHS; Điểm h khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo Q, Điều 106 BLTTHS;
- Xử phạt Nguyễn Viết Q từ 40 tháng đến 45 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 28/03/2023. Phạt bị cáo 10.000.000đ để sung Ngân sách Nhà nước.
- Xử phạt Nguyễn Viết T1 từ 30 tháng đến 36 tháng từ, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 28/03/2023.
- Xử phạt Dương Văn T2 từ 26 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 28/03/2023.
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: - Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại là chất ma túy sau giám định.
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước 200.000đ là tiền do T2 bán trái phép chất ma túy cho T3 mà có; Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 03 chiếc điện thoại di động là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội, cụ thể: 01 chiếc mang nhãn hiệu IPhone 13 promax màu xanh, bên trong lắp sim thuê bao số 0964.547.xxx thu của Dương Văn T2, 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone XS Max màu vàng lắp sim 0973.889.xxx thu của Nguyễn Viết Q và 01 điện thoại di động nhãn hiệu LG màu đen lắp sim 0865.262.xxx thu của Nguyễn Viết T1.
Trong phần tranh luận các bị cáo thừa nhận tội lỗi và không có ý kiến tranh luận hay đối đáp với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Ninh và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
I. Về tố tụng: Quá trình tố tụng Cơ quan điều tra, điều tra viên, Cơ quan kiểm sát và kiểm sát viên đã tuân thủ đúng, đầy đủ các nguyên tắc và hoạt động tố tụng theo quy định của BLTTHS, việc lấy lời khai của các bị cáo, người làm chứng đảm bảo khách quan, đúng pháp luật, không có việc mớm cung, ép cung hay dùng nhục hình.
II. Về tội danh: Lời khai và nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với nhau và phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, như: Lời khai của người mua ma túy, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định về khối lượng, loại chất ma túy của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, đủ căn cứ khẳng định hành vi tìm mua 3,6607gam ma túy là chất Methamphetamine đem về chia nhỏ với mục đích bán kiếm lời của Nguyễn Viết Q sau đó chỉ đạo cho Nguyết Viết T1 bán cho Dương Văn T2 0,0564gam và hành vi của Dương Văn T2 sau khi mua 0,0564gam ma túy của Nguyễn Viết Q lại đém bán lại cho Hoàng Văn T3 với giá 200.000đ vào sáng ngày 28/3/2023 tại khu T, phường N, thành phố B đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh truy tố các bị cáo theo khoản 1 Điều 251 của BLHS là đúng tội, đúng người.
Hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, ma túy còn là hiểm họa đối với xã hội, tác động xấu đến sức khoẻ, nhân cách và sự phát triển bình thường của con người, ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật. Các bị cáo đều đã trưởng thành, đủ khả năng nhận thức được tác hại của ma túy và sự cấm đoán của pháp luật đối với các hành vi mua bán, sản xuất, tàng trữ, sử dụng chất ma túy…, song với ý thức tư lợi, coi thường pháp luật, coi thường các chuẩn mực của đời sống xã hội các bị cáo vẫn cố ý bán trái phép chất ma túy qua đó gieo giắc cái chết trắng cho xã hội. Vì thế cần phải xử lý nghiêm các bị cáo bằng chế tài pháp luật hình sự mới đảm bảo giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa chung.
Xét tính chất của vụ án thấy: Vụ án có nhiều người cùng cố ý tham gia 01 tội phạm, song mức độ câu kết giữa bị cáo Q và bị cáo T1 chưa thực sự chặt chẽ, không có sự phân công phân nhiệm nên tính chất đồng phạm của Q và T1 chỉ mang tính giản đơn không phải phạm tội có tổ chức. Xét vai trò tham gia tội phạm, nhân thân và các tính tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo thấy. Bị cáo Q là người có vai trò chính, bị cáo là người trực tiếp tìm mua ma túy đem về chia lẻ để bán kiếm lời, sau đó nhờ T1 giao ma túy cho Dương Văn T2, bản thân bị cáo lại là người có nhân thân xấu ngày 24/3/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và 7.000.000đ về tội “Đánh bạc”. Bị cáo mới chấp hành xong hình phạt chính, chưa chấp hành hình phạt bổ sung nên lần phạm tội này của bị cáo là “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng TNHS qui định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS do vậy cần phải có một mức án tương xứng cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo thành công dân tốt cho xã hội. Với bị cáo T1 có mức độ tham gia tội thấp hơn bị cáo Q, T1 chỉ là người giúp sức cho bị cáo Q trong việc bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Dương Văn T2, ngoài việc giúp bán 0,0564gam ma túy là Metaphetamine cho bị cáo T2 để T2 bán lại cho Hoàng Văn T3, bị cáo còn cất 0,0916g ma túy để bán do vậy với bị cáo T1 và bị cáo T2 cũng cần phải có 01 mức án tương xứng cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội.
- Tuy nhiên khi lượng hình thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận với hành vi phạm tội, đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
V. Hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là hình phạt tù, xét hành vi phạm tội của các bị cáo Q, T1, T2 đều mang tính vụ lợi, để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật thấy cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo qui định tại khoản 5 Điều 251 của BLHS.
- Xử lý vật chứng: Các viên nén màu đỏ, màu xanh và chất tinh thể màu trắng, màu vàng thu được qua giám định là Methamphetamine, đây là chất ma túy Nhà nước nghiêm cấm sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng do vậy cần phải tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 200.000đ thu giữ của Dương Văn T2 quá trình điều tra xác định là tiền do T2 bán chất ma túy cho T3 mà nên có cần phải tịch thu sung ngân sách Nhà nước; Đối với 03 chiếc điện thoại di động, trong đó trong 01 chiếc mang nhãn hiệu IPhone 13 promax màu xanh, bên trong lắp sim thuê bao số 0964.547.xxx thu của Dương Văn T2, 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone XS Max màu vàng lắp sim thuê bao số 0973.889.xxx thu của Nguyễn Viết Q và 01 điện thoại nhãn hiệu LG màu đen lắp sim thuê bao số 0865.262.xxx thu của Nguyễn Viết T1. Quá trình điều tra chứng minh là phương tiện được các bị cáo sử dụng vào việc liên lạc mua, bán trái phép chất ma túy nên theo qui định cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Liên quan trong vụ án này: Đối với người đàn ông đã bán chất ma túy cho Q, Q khai không biết người này tên tuổi là gì ở đâu nên với người đàn ông này cơ quan điều tra vẫn đang tiếp tục điều tra, xác minh. Khi nào làm rõ thì sẽ xử lý theo qui định của pháp luật.
Đối với hành vi mua và tàng trữ 0,0564gam ma túy là chất Methamphetamine của đối tượng Hoàng Văn T3: Quá trình điều tra đối tượng khai tên Hoàng Văn T3 có HKTT tại: Thôn L, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú theo lời khai của đối tượng nhưng không xác định được nhân thân, lý lịch như T3 khai do vậy với đối tượng tên Hoàng Văn T3 cơ quan điều tra vẫn đang tiếp tục xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý theo qui định của pháp luật.
VI. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Viết Q, Nguyễn Viết T1 và Dương Văn T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm 1 và khoản 5 Điều 251, Điều 17, điểm s, khoản 1 Điều 51 (điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS đối với bị cáo Q) Điều 38, Điều 47, 58 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 135, 136, 299, 326, 327, 329, 331, 332, 333 BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTVQH nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
- Xử phạt: Nguyễn Viết Q: 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/03/2023.
- Xử phạt: Nguyễn Viết T1: 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/03/2023.
Xử phạt: Dƣơng Văn T2: 28 (hai mươi tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/03/2023.
Phạt bị cáo Q 10.000.000đ để sung ngân sách Nhà nước; Phạt bị cáo T2 và bị cáo T1 mỗi bị cáo 5.000.000đ để sung ngân sách Nhà nước.
- Quyết định tạm giam các bị cáo Q, T1, T2 mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: + Tịch thu tiêu huỷ 02 phong bì đựng mẫu vật là chất ma túy còn lại sau giám định theo các Bản kết luận giám định số: 787 và 788/KL- KTHS, ngày 30/03/2023 và ngày 31/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Ninh.
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước 03 chiếc điện thoại di động là phương tiện các đối tượng sử dụng vào việc trao đổi, mua bán ma túy, cụ thể gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 13Promax màu xanh đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Phone XS max màu vàng đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu LG màu đen đã qua sử dụng.
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước 200.000đ là tiền có liên quan đến việc bán trái phép chất ma túy.
- Về án phí: Bị cáo Q, T2, T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND tỉnh Bắc Ninh - VKSND thành phố Bắc Ninh; - THADS thành phố Bắc Ninh; - Công an thành phố Bắc Ninh; -TTG Công an tỉnh Bắc Ninh; - Các bị cáo; - Lưu HS, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Đỗ Thế Bình |