- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí Kh phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG ———————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 161/2023/HS-ST Ngày 06-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Văn Nhung.
2. Bà Hoàng Lệ Chi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 140/2023/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Chí Kh, sinh năm 1996 tại tỉnh K; thường trú: Ấp Tám II, xã Th, huyện A, tỉnh K; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 3/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn U, sinh năm 1965 và bà Đoàn Thị D, sinh năm 1971 (đã chết); bị cáo có 01 em ruột sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng bện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/02/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Người chứng kiến: Nguyễn Thanh Đ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 ngày 00 phút ngày 04/02/2023, Kh đi bộ đến khu vực bãi đất trống thuộc tổ 42, khu phố Ch, phường T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương gặp một người đàn ông tên Tâm (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 300.000 đồng ma túy và bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: Một bình thủy tinh, một nỏ thủy tinh, một ống hút nhựa. Sau khi mua ma túy Kh quay về phòng trọ của mình tại nhà trọ An Việt, tổ 42, khu phố Ch, phường T, thành phố Dĩ An lấy một ít ma túy ra sử dụng, phần còn lại và bộ dụng cụ Kh cất giấu vào trong hộp giấy ghi chữ 3D Mask tại hành lang trước cửa phòng trọ của Kh. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 05/02/2023 lực lượng Công an phường Tân Đông Hiệp kiểm tra hành chính nhà trọ thì phát hiện và tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật và lập hồ sơ vụ việc chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An xử lý theo quy định.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng; một bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: một bình thủy tinh, một nỏ thủy tinh, một ống hút nhựa.
Kết luận giám định số 71/KL-KTHS ngày 10/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Chí Kh gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,3095 gam. (Khối lượng ma túy còn lại sau giám định là 0,2229gam).
Cáo trạng số 170/CT-VKS ngày 26/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Chí Kh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Nguyễn Chí Kh từ 14 (mười bốn) tháng đến 16 (mười sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định là 0,2229gam; một bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: một bình thủy tinh, một nỏ thủy tinh và một ống hút nhựa.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Kh do chưa rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt và xử lý vật chứng. Đồng thời trong lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ xác định bị cáo phạm tội: Căn cứ lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 05/02/2023, kết luận giám định và những chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 05/02/2023, tại nhà trọ A, tổ 42, khu phố Ch, phường T, thành phố D bị cáo Nguyễn Chí Kh đã bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine với tổng khối lượng là 0,3095 gam. (Căn cứ kết luận giám định số 71/KL-KTHS ngày 10/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương). Hành vi của bị cáo Kh đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng số 170/CT-VKS ngày 26/4/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hiện nay, Đảng, Nhà nước và toàn xã hội ra sức tuyên truyền cho mọi người hiểu biết về tác hại của ma túy và đẩy mạnh nhiều biện pháp phòng ngừa. Bị cáo biết hành vi tàng trữ chất ma túy là trái pháp luật nhưng vì nghiện ngập nên vẫn cố tình thực hiện để nhằm phục vụ cho nhu cầu của bản thân. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình tố tụng, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về nhân thân: Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy và những hệ lụy do ma túy mang lại nhưng vẫn tàng trữ để sử dụng.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Bị cáo xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ. cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với một bì thư đã niêm phong bên trong có khối lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định là 0,2229gam và một bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: một bình thủy tinh, một nỏ thủy tinh và một ống hút nhựa. Đây là chất cấm lưu hành và dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối tượng bán ma túy cho bị cáo Kh hiện chưa rõ nhân thân, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục xác minh xử lý sau.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí Kh 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 02 năm 2023.
2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: Một bì thư đã niêm phong bên trong có khối lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định là 0,2229gam và một bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: một bình thủy tinh, một nỏ thủy tinh, một ống hút nhựa.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Chí Kh phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND Tp. Dĩ An (1); - Công an Tp. Dĩ An (1); - Chi cục THADS Tp.Dĩ An (1); - Trại tạm giam CA tỉnh BD (1); - TAND tỉnh BD (1); - UBND xã, phường (1); - Phòng PV 27 CA tỉnh BD (1); - Phòng PC 81 CA tỉnh BD (1); - Bị cáo (1); - Người tham gia tố tụng (2); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (1); - Lưu: VT, HS (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Vân |