vanban.org

Bản án 161/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 28/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Tường V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Tường V: 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2023. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Số 161 28.12.2023 Phạm Thị Tường V - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Tường V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỊNH QUÁN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 161/2023/HS-ST
Ngày: 28-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thành Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Liệu.

2. Bà Trần Thị Hoa.

Thư ký phiên tòa: Ông Quách Kim Lân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thanh Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 202/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Thị Tường V, sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi đăng ký thường trú: Ấp L, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: phố Q, Ấp E, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Trí D (đã chết) và bà Lê Thị T (đã chết); Chồng: Trần Nam G, sinh năm 1988; con: 02 người, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt truy nã ngày 09/6/2023 và đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Định Quán “có mặt”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Trần Nam G, sinh năm 1988; hiện đang chấp hành án tại Trại giam Thủ Đức - Bộ Công an “vắng mặt”.

2/ Võ Thành P1, sinh năm 1990; hiện đang chấp hành án tại Trại giam Thủ Đức - Bộ Công an “có mặt”.

3/ Phan Đình P2, sinh năm 1997; hiện đang chấp hành án tại Trại giam Xuyên Mộc - Bộ Công an “có mặt”.

4/ Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp QB, xã X, huyện L, tỉnh Đồng Nai “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Thị Tường V và Trần Nam G là vợ chồng, chung sống tại căn nhà phố Q, ấp E, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Bản thân V và G là các đối tượng nghiện ma túy và không có việc làm ổn định, để có tiền tiêu xài và ma túy để sử dụng cho bản thân nên vợ chồng V nảy sinh ý định mua ma túy để sử dụng và bán cho con nghiện.

Vào ngày 13/01/2022, G đi từ nhà của G thuộc phố Q, ấp E, xã P đến khu vực đường “Trại heo” thuộc ấp R, xã G, huyện Đ tìm gặp một người đàn ông tên D khoảng 30 tuổi (G không rõ họ tên và địa chỉ của D) để hỏi mua được một bịch ma túy đá với giá 1.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, G mang về nhà chia thành ba bịch nhỏ để cất giấu và lấy một ít ra để sử dụng cùng với V. Bản thân G là người trực tiếp đi mua ma túy và mang về nhà phân chia nhỏ thành các bịch bán cho các con nghiện, số tiền giao động các bịch từ 300.000 đồng - 400.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 14/01/2022 thì bị lực lượng Công an huyện Định Quán phối hợp cới Công an xã Phú Lợi kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy mà G đã cất giấu.

Ngoài hành vi cất giấu ma túy để sử dụng, trong thời gian từ tháng 05/2021, do G là đối tượng nghiện ma túy và có quen biết với nhiều con nghiện nên G nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại để kiếm lời. Để thực hiện hành vi của mình, G đã liên hệ mua ma túy của đối tượng tên Minh K (chưa rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực thành phố L 02 lần. Sau đó G chia nhỏ thành nhiều phần bán cho con nghiện với giá từ 200.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Các con nghiện mua ma túy của G có thể đến trực tiếp gặp G hoặc liên lạc qua ứng dụng Zalo của G để mua ma túy. Trong quá trình G bán ma túy, Phạm Thị Tường V biết việc G bán ma túy cũng đồng thuận, giúp sức G bằng cách khi G đi vắng có con nghiện cần mua ma túy thì G sẽ nói với V nhận tiền và chỉ chỗ cho V nơi cất giấu ma túy và sau khi V nhận tiền từ con nghiện thì V sẽ nói cho con nghiện biết chỗ giấu ma túy để con nghiện tự lấy. V sử dụng điện thoại Iphone X màu trắng gắn sim số 0335059558 để nhắn tin trao đổi mua bán ma túy với các con nghiện và thông báo lại cho G để G lấy ma túy bán cho các con nghiện. G và Vy đã cùng nhau bán ma túy cho 02 con nghiện. Cụ thể như sau:

Người thứ nhất: G và V đã bán ma túy cho Võ Thành P1, sinh năm 1990, trú tại khu phố H, thị trấn Đ được nhiều lần mỗi lần từ 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng, G, V và P1 đều không nhớ rõ thời gian cụ thể mỗi lần mua và bán. Khi P1 có nhu cầu mua ma túy sẽ đến nhà gặp G để mua, những lúc không liên lạc được với G, P1 đã sử dụng nick Facebook của P1 tên “Tý Cọp” nhắn tin qua Messenger cho V (V sử dụng nick facebook tên “Vy”) để trao đổi về giá tiền và khối lượng ma túy tương ứng. Sau đó, Giang sẽ gọi điện cho V để lấy tiền của P1 qua cửa sổ trước nhà và P1 lấy ma túy tại thành cửa sổ nhà của G và V. Việc mua bán ma túy đều diễn ra tại căn nhà của V và G tại Phố Q, ấp E, xã P.

Người thứ hai: G và V đã bán ma túy cho Phan Đình P2, sinh năm 1997, trú tại ấp L, xã G nhiều lần với số tiền giao động từ 200.000 đồng - 500.000 đồng và những khi G không có nhà thì V là người trực tiếp bán ma túy cho P2 qua cửa sổ tại nhà của V và G, những lúc không liên hệ được G để mua ma túy thì P2 sẽ sử dụng mạng xã hội Facebook tại mục tin nhắn Messenger của P2 tên “Phan Đ Phú” để nhắn tin cho Phạm Thị Tường V (V sử dụng nick tên “Vy”) để trao đổi về giá tiền và khối lượng ma túy tương ứng. G, V và P1 đều không nhớ rõ thời gian cụ thể mỗi lần mua và bán. Việc mua bán ma túy đều diễn ra tại căn nhà của V và G tại phố Q, ấp E, xã P, huyện Đ.

V khai nhận quá trình bán ma túy cho các con nghiện V không biết có thu lợi bất chính hay không vì toàn bộ việc mua bán ma túy đều do G quyết định.

Về trách nhiệm hình sự: Tại Bản án số 21/2023/HS-ST ngày 17/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tuyên phạt Trần Nam G 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 05 năm tù tại Bản án số 07/2022/HSST ngày 19/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai Bản án là 20 năm tù.

Phạm Thị Tường V sau khi được Cơ quan điều tra mời về làm việc đã bỏ trốn, đến ngày 09/6/2023 thì bị bắt theo Quyết định truy nã.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Định Quán, Phạm Thị Tường V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Vật chứng vụ án: Xe mô tô hiệu Honda Vario gắn biển số 60B4-988.98; số tiền 220.000.000 đồng và tờ tiền mệnh giá 100 USD; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, số IMEI 359406087740854, gắn SIM số 0335059558.

Tại cáo trạng số 143/CT-VKS-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Phạm Thị Tường V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa trình bày luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Phạm Thị Tường V từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.

Đề nghị Tòa tuyên tịch thu và sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, số IMEI 359406087740854, gắn SIM số 0335059558.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị áp dụng đối với bị cáo, thống nhất về xử lý vật chứng, bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Định Quán, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2021 đến ngày 14/01/2022, tại phố Q, ấp E, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, Phạm Thị Tường V đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Phan Đình P2 nhiều lần số tiền giao động từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng và bán trái phép chất ma túy cho Võ Thành P1 02 lần với số tiền từ 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng số 143/CT-VKS-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã mô tả. Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Thị Tường V đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, xâm phạm an ninh, trật tự trong xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, nhân cách con người. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử với mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi của bị cáo gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật và răn đe phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét bị cáo phạm tội với vai trò giúp sức cho bị cáo Trần Nam G, không giữ vai trò chính nên xét xử bị cáo mức hình phạt nhẹ hơn hình phạt đã áp dụng cho bị cáo G khi xét xử trước đó. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thuộc trường hợp quy định s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo là nữ, đang phải nuôi hai con còn nhỏ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe mô tô hiệu Honda Vario gắn biển số 60B4-988.98; số tiền 220.000.000 đồng và tờ tiền mệnh giá 100 USD Cơ quan điều tra đã thu giữ, quá trình điều tra xác định đây là tài sản riêng của Phạm Thị Tường V, không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra trả lại cho V. Chị Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1983, trú tại ấp QB, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai là chị gái của Phạm Thị Tường V đã nhận đủ tài sản trên là có cơ sở chấp nhận.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, số IMEI 359406087740854, gắn SIM số 0335059558, đây là công cụ được bị can V sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng các Điều 268, 326 và 327 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Tường V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Tường V: 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2023.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, số IMEI 359406087740854, gắn SIM số 0335059558.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ