- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 161/2022/HS-ST Ngày 27-7.-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Châu
Ông Trần Vũ Vương
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 145/2022/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Quàng Văn T, sinh năm 1989; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên; Chỗ ở hiện nay: Lang thang không nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn L và bà Quàng Thị X; Vợ con: Không; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 11/5/2011 Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Năm 2018 đi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện ma túy số 4 thành phố Hà Nội; Danh chỉ bản số: 163 ngày 19/5/2022 của công an quận
Hai
Bà
Trưng,
thành
phố
Hà
Nội. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/5/2022 đến nay tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo là bà Bùi Thị Hải Lưu - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp viên pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội (có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13h30’ ngày 11/5/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Quàng Văn T đi bộ đến khu vực trước cửa ngã ba T - N, phường B, quận H, thành phố Hà Nội, gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 200.000đồng tiền ma túy Heroine dưới dạng chất bột màu trắng đựng trong 02 gói giấy màu trắng kích thước 0,5x1cm. Quàng Văn T cầm số ma túy vừa mua được ở lòng bàn tay phải của mình rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Khi T đi đến khu vưc trước cửa số 128 V, phường B, quận H, thành phố hà Nội thì bị Tổ công tác công an phường B, quận H, thành phố Hà Nội phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác đã lập biên bản đưa T về trụ sở để xác minh, làm rõ. Ngoài ra, cơ quan điều tra không thu giữ gì khác của T. Bản kết luận giám định số 3148/KLGĐ-PC09 ngày 19/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy màu trắng là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng: 0,106 gam”. Tại cơ quan điều tra, Quàng Văn T khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 11/5/2022 như nôi dung nêu trên. Lời khai của T phù hợp với biên bản bắt quả tang, sơ đồ bắt giữ, vật chứng thu giữ, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Cơ quan điều tra đã dẫn giải Quàng Văn T đi xác định địa điểm mua ma túy và người bán ma túy nhưng T không xác định được người đàn ông bán ma túy. Kết quả T xác định được vị trí mua ma túy là tại khu vực ngã ba phố T - N, phường B, quận H, thành phố Hà Nội. T không xác định được người đàn ông bán ma túy cho mình, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, xử lý.
Bản cáo trạng số 136/CT -VKSHBT ngày 12/7/2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội đã truy tố Quàng Văn T về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội dung đã nêu trên là đúng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự bà Điều 106 Bộ luật Hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,106gam Heroine.
Người bào chữa cho bị cáo, sau khi tham gia phần xét hỏi và tranh luận, nhất trí với bản cáo trạng và không có ý kiến gì về tội danh như Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị hội đồng xét xử, căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh ra ở vùng núi tỉnh Điện Biên nơi có nhiều hủ tục lạc hậu dẫn đến nhận thức của bị cáo có phần hạn chế, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo. Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án thể hiện như sau: Khoảng 13h40’ ngày 11/5/2022, tại khu vực trước số 128 V, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội, Quàng Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,106gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an phường B, quận H, thành phố Hà Nội phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Do đó đủ cơ sở khẳng định bị cáo Quàng Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Việc truy tố, xét xử bị cáo là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội mà còn làm gia tăng các tệ nạn về ma tuý và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác trên địa bàn. Ma tuý là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, vì nó trực tiếp huỷ hoại sức khoẻ và làm ảnh hưởng đến nòi giống. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Song do thiếu tu dưỡng, coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Nhân thân bị cáo có 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy vào năm 2011 đã được xóa án tích và 01 tiền sự vào năm 2018 đi cai nghiện bắt buộc, mặc dù đã hết thời hiệu nhưng để đánh giá về nhân thân xác định bị cáo có nhân thân không tốt. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đó là những tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với pháp luật. Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, nhưng có phần nghiêm khắc do vậy Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy 0,106gam Heroine.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Quàng Văn T: 14( Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 11/5/2022.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong, bên ngoài có chữ ký của bị cáo và giám định viên bên trong chứa 0,106gam Heroine. (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an quận Hai Bà Trưng với Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng số 209/22 ngày 13/7/2022.)
Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND Q. Hai Bà Trưng. - VKS TP. Hà Nội - Công an Q. Hai Bà Trưng. - Bị cáo. - Lưu./ | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Văn Tiến |