- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị H được ly hôn Anh Võ Tá Th.
- Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 161/2022/HNGĐ-ST Ngày: 15 - 8 - 2022 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân
Các Hội thẩm nhân dân
Ông Nguyễn Hồ Cảnh
Ông Trần Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 65/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2022 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định hoãn số phiên tòa số 69/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị H, sinh năm 1987.
Nơi đăng ký HKTT: Xóm Nam Bố S, xã Nghi V, huyện Nghi L, tỉnh Nghệ An.
Địa chỉ hiện nay: D388 tổ 8, khu phố 4, phường Long Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Có đơn xin xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Võ Tá Th, sinh năm 1986.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm Nam Bố S, xã Nghi V, huyện Nghi L, tỉnh Nghệ An. Hiện cư trú tại Đài Loan. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, trình bày tại bản tự khai nguyên đơn Chị Trương Thị H trình bày: Chị và Anh Võ Tá Th yêu nhau và kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 09 tháng 11 năm 2009, tại Ủy ban nhân dân Ủy ban nhân dân xã Trung Sơn, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc, đầm ấm được một thời gian thì tháng 1/2021 anh Th đi làm ăn tại Đài Loan, chị và con vào miền nam sinh sống Từ đó hai vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do không tin tưởng nhau, không có tiếng nói chung. Tình cảm vợ chồng không còn như trước, căng thẳng kéo dài, không thể hòa giải được, vợ chồng không quan tâm lẫn nhau về vật chất lẫn tinh thần. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn Anh Võ Tá Th.
Về con chung: Chị Trương Thị H và Anh Võ Tá Th có một con chung là cháu Võ Tá Minh Đ, sinh ngày 18/12/2015, hiện nay con chung đang sống cùng với mẹ. Ly hôn, chị H có nguyện vọng Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là Anh Võ Tá Th: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn là Anh Võ Tá Th vắng mặt. Chị Trương Thị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh Th cư trú, chị chỉ biết hiện nay anh Th đang sinh sống tại Đài Loan. Tòa án đã hai lần gửi văn bản yêu cầu bà Nguyễn Thị Ch (là mẹ đẻ của anh Th), trú tại: Xóm Nam Bố S, xã Nghi V, huyện Nghi L, tỉnh Nghệ An cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cũng như yêu cầu bà thông báo với anh Th để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, tại biên bản xác minh bà Chương cho biết thời gian ở nước ngoài, anh Th thường xuyên liên lạc về với bà qua điện thoại còn địa chỉ cụ thể của anh Th thì anh Th không cung cấp nên bà không biết. Bà đã thông báo cho anh Th biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị H và anh Th, thông qua bà anh Th không có ý kiến gì chị H muốn ly hôn thì tùy chị H, về con chung anh Th đồng ý giao con chung cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho Chị Trương Thị H ly hôn với Anh Võ Tá Th. Về con chung: Đề nghị giao con chung cháu Võ Tá Minh Đ, sinh ngày 18/12/2015 cho Chị Trương Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu nên không xem xét; giành quyền khởi kiện về chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trương Thị H hiện cư trú tại Việt Nam làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với Anh Võ Tá Th hiện cư trú ở nước ngoài; trước xuất cảnh, anh Th có địa chỉ cư trú tại Xóm Nam Bố S, xã Nghi V, huyện Nghi L, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là Anh Võ Tá Th vắng mặt, Tòa án đã gửi công văn yêu cầu bà Nguyễn Thị Ch (là mẹ đẻ của anh Th) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho anh Th biết để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, bà không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh Th; đến nay Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến của anh Th liên quan đến yêu cầu khởi kiện nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung, Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi trú cuối cùng của anh Th trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn Chị Trương Thị H có đơn xin xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Chị Trương Thị H, Hội đồng xét xử thấy rằng:
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị H và Anh Võ Tá Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị H và anh Th sống với nhau được một thời gian thì tháng 1/2021 anh Th đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Chị H và con vào miền nam sinh sống. Từ đó giữa hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, không quan tâm lẫn nhau, đến nay chị H và anh Th không liên lạc với nhau. Xét thấy, chị H và anh Th không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho Chị Trương Thị H được ly hôn Anh Võ Tá Th.
. Về con chung: Chị Trương Thị H và Anh Võ Tá Th có một con chung là Võ Tá Minh Đ, sinh ngày 18/12/2015, hiện đang ở với chị H. Ly hôn, chị H có nguyện vọng giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và chị H không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng của chị H là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện thực tế, vì hiện nay, Anh Võ Tá Th đang ở nước ngoài và cố tình dấu địa chỉ. Do đó, căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị H. Giao cho chị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Võ Tá Minh Đ, sinh ngày 18/12/2015 cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho chị H khi có yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trương Thị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
Về án phí sơ thẩm: Chị Trương Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Điều 37, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 4 Điều 207, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Trương Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị H được ly hôn Anh Võ Tá Th.
- Về con chung: Giao con chung Võ Tá Minh Đ, sinh ngày 18/12/2015 cho Chị Trương Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H chưa yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Sau khi ly hôn, Anh Võ Tá Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
2. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trương Thị H không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
3. Về án phí: Chị Trương Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011812 ngày 23/3/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
4. Chị Trương Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Võ Tá Th có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Cục THADS tỉnh Nghệ An; - UBND xã Trung Sơn, huyện Gio Linh; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Thái Thị Hồng Vân |