- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 161/2022/DS-ST Ngày: 30-6-2022 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hoàng Mai.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Huỳnh Thị Quỳnh Hoa.
2. Bà Nguyễn Thị Thu Thủy.
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thùy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân
quận Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Ngọc Liên Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2022 tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ
thẩm công khai vụ án thụ lý số: 143/2021/TLST-DS ngày 21 tháng 7 năm 2021 về: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2022/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần A; Địa chỉ trụ sở: 266 -
268 Đường A, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Trung Hiếu, sinh
năm 1981 (theo Giấy ủy quyền số 10/2022/GUQ-CNTB ngày 01/01/2022 (có mặt).
- Bị đơn: Bà Trần Ngọc L, sinh năm 1975; Địa chỉ: 248/32 Đường E,
Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/5/2021 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa
án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 11/10/2019, Ngân hàng Thương mại Cổ phần A (sau đây viết tắt là
Ngân hàng) có ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) với bà Trần Ngọc L, hạn mức tín dụng là 60.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Trong quá trình sử dụng thẻ, bà L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 293.299.988 đồng, đã thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền là 257.096.472 đồng. Quá trình sử dụng thẻ, bà Lnhiều lần thanh toán trễ hạn, Ngân hàng nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà L vẫn tiếp tục vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 05/02/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Lthanh toán ngay các khoản tiền còn thiếu tạm tính đến ngày 30/6/2022 tổng cộng là 88.773.867 đồng, bao gồm: nợ gốc 56.390.049 đồng, lãi quá hạn 32.383.818 đồng; bà L còn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 01/7/2022 cho đến khi dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn, bà Trần Ngọc L vắng mặt suốt quá trình tố tụng của Tòa án nên
không có ý kiến trình bày.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:
- Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng qui định của Bộ
luật Tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp, việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự đúng theo quy định tại Điều 177 và 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
- Về nội dung: Yêu cầu của Ngân hàng là phù hợp quy định pháp luật đề
nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự tại phiên tòa, ý kiến của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về pháp luật tố tụng:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần A khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay
tài sản đối với bị đơn - bà Trần Ngọc L. Bà L có địa chỉ tại 248/32 Nguyễn Thái Bình, Phường 12, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng hiện không thực tế cư trú tại địa phương, không rõ đi đâu. Như vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình.
Bị đơn - bà Trần Ngọc L mặc dù đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên
tòa hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về pháp luật nội dung:
Xét yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A, buộc bà Trần
Ngọc L thanh toán số tiền nợ tạm tính đến ngày 30/6/2022 tổng cộng là 88.773.867 đồng, bao gồm: nợ gốc 56.390.049 đồng, lãi quá hạn 32.383.818 đồng; bà L còn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 01/7/2022 cho đến khi dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày
11/10/2019, xác nhận của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì có đủ cơ sở xác định nguyên đơn có cấp thẻ tín dụng cho bị đơn với hạn mức tín dụng 60.000.000 đồng. Bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 293.299.988 đồng, đã thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền là 257.096.472 đồng. Quá trình sử dụng, bị đơn nhiều lần thanh toán trễ hạn mặc dù nguyên đơn nhiều lần làm việc, nhắc nhở nên ngày 05/02/2021 nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tạm tính đến ngày 30/6/2022, bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền tổng cộng là 88.773.867 đồng, bao gồm: nợ gốc 56.390.049 đồng, lãi quá hạn 32.383.818 đồng. Xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo như thỏa thuận đã ký kết nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả ngay một lần toàn bộ số tiền trên và yêu cầu bị đơn còn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 01/7/2022 cho đến khi dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng đã ký với nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
Xét ý kiến bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm
nay, bị đơn đã được niêm yết hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do chính đáng, điều này cho thấy bị đơn tự từ chối quyền được trình bày để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố
Hồ Chí Minh: Yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp theo quy định pháp luật, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm là 4.438.693 đồng do bà
Trần Ngọc L chịu. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.505.575 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ các Điều 91, 95, 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại
Cổ phần A:
Buộc bà Trần Ngọc L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ
phần A số tiền 88.773.867 (tám mươi tám triệu bảy trăm bảy mươi ba ngàn tám trăm sáu mươi bảy) đồng, bao gồm: nợ gốc: 56.390.049 (năm mươi sáu triệu ba trăm chín mươi ngàn không trăm bốn mươi chín) đồng; nợ lãi tạm tính đến ngày 30/6/2022 là 32.383.818 (ba mươi hai triệu ba trăm tám mươi ba ngàn tám trăm mười tám) đồng.
Kể từ ngày 01/7/2022 cho đến khi thi hành án xong, bà Trần Ngọc L còn
phải chịu khoản tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11/10/2019.
Phương thức và thời hạn trả: Trả một lần toàn bộ số tiền trên ngay sau
khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2/ Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm 4.438.693 (bốn triệu bốn trăm ba
mươi tám ngàn sáu trăm chín mươi ba) đồng do bà Trần Ngọc L chịu.
Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A số tiền tạm ứng án phí
đã nộp là 1.505.575 (một triệu năm trăm lẻ năm ngàn năm trăm bảy mươi lăm) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0069547 ngày 09/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.
3/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền
kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q.TB; - CCTHADS Q.TB; - Các đương sự; - Lưu VP, Hồ sơ (…). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hoàng Mai |