- Tranh chấp gì? án hình sự — ""Chứa mại dâm", "Môi giới mại dâm" - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ vào: khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 327 Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 161/2021/HSST Ngày: 16/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thái Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Đặng Thanh Tấn
2/ Bà Nguyễn Thị Bội Nhu
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên – Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hòa Thương – Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 161/2021/HSST ngày 07/10/2021, đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Duy L, sinh năm 1970; HKTT: thôn Phú Hưng, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận; Tạm trú: thôn Xuân Tài, xã Phong Nẫm, TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh, Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12, Nghề nghiệp: buôn bán; Cha: ông Lê Văn Lợi - sinh năm 1947, Mẹ: bà Phạm Thị Hận - sinh năm 1947; Vợ: Nguyễn Thị Thu Hà - sinh năm 1989, Con: Lê Thị Ngọc Hân - sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt và tạm giữ từ ngày 06/6/2021 đến ngày 15/6/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
2. Họ và tên: Trần Hữu T, Tên gọi khác: Tuấn Khều, sinh năm 1992; HKTT: khu phố 33, Sông Danh 3, TT. Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận ; Tạm trú: thôn Xuân Tài, xã Phong Nẫm, TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh, Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 8/12, Nghề nghiệp: không; Cha: ông Trần Văn Dũng (đã chết), Mẹ: bà Đặng Thị Hồng, sinh năm 1965; Vợ, con: chưa có; Tiền án: Ngày 09/7/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tuyên phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy” (theo bản án số 63/2015/HSST). Chấp hành
1 xong bản án ngày 11/10/2019, chưa được xóa án tích; Tiền sự: không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 7/2020, Lê Duy L (sinh năm 1970, HKTT: thôn Phú Hưng, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận) thuê căn nhà trên đường Trường Chinh thuộc thôn Xuân Tài, xã Phong Nẫm, TP. Phan Thiết của ông Võ Thanh Tùng (sinh năm 1946, HKTT: thôn Xuân Tài, xã Phong Nẫm, TP. Phan Thiết) để hoạt động chứa mại dâm nhằm thu lợi bất chính. Sau khi thuê được nhà Long dùng ván ép ngăn ra thành năm phòng được đánh số từ 01 đến 04 để phục vụ cho việc chứa mại dâm, phòng còn lại Long dùng để ở; kích thước mỗi phòng là (1,6 x 2,4) m; bên trong mỗi phòng phục vụ cho việc mua bán dâm Long đặt một tấm nệm có kích thước (1,2 x 02) m. Khi có khách đến mua dâm, Long liên lạc với Trần Hữu T (tên thường gọi là Tuấn Khều, sinh năm 1992, HKTT: khu phố 33, Sông Danh 3, TT. Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận) là chủ lò đào ở khu phố 1, phường Phú Tài, TP. Phan Thiết để Tuấn chở gái bán dâm đến thực hiện việc mua bán dâm. Sau mỗi lượt mua bán dâm tại quán của Long, gái bán dâm thu của khách 200.000 đồng, rồi đưa lại cho Long 70.000 đồng tiền phòng. Thời gian hoạt động của quán là từ khoảng 17 giờ đến 24 giờ cùng ngày thì nghỉ. Long thường ngồi phía trước quán để đón khách vào mua dâm và cảnh giới khi khách mua dâm và gái bán dâm đã vào phòng thực hiện hành vi giao cấu.
Vào khoảng 17 giờ ngày 05/6/2021, Lê Duy L mở cửa để đón khách như thường lệ, đến 19 giờ 30 phút cùng ngày thì có K’ Văn Sơn (sinh năm 1996, HKTT: thôn 1, xã Đông Giang, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận) điều khiển xe mô tô biển số 86B3 – 714.31 chở theo K’ Văn Tuấn (sinh năm 2003, HKTT: thôn 1, xã Đông Giang, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận) đến quán để mua dâm. Lúc này Long đi ra và hỏi: “Cần mấy người?” (tức cần mấy gái bán dâm đến phục vụ) thì Sơn trả lời: “Cần một người” (tức cần một gái bán dâm). Long nói lại: “Ngồi đợi xíu” thì Sơn đi lại võng ở trước quán nằm, còn Tuấn đi vệ sinh. Tiếp đó, Long sử dụng điện thoại di động của mình có số thuê bao 0933845908 gọi vào số 0792393118 của Trần Hữu T và nói: “Có đứa nào dưới đó không?” Tuấn hiểu là Long hỏi có gái bán dâm nào đang ở chỗ của Tuấn không nên Tuấn trả lời: “Có Oanh”. Long nói lại “Chở lên” rồi tắt điện thoại. Khoảng 05 phút sau, Tuấn điều khiển xe mô tô chở Trần Nguyễn Hồng Oanh (sinh năm 1995, HKTT: thôn 3, xã Đồng Kho, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận) đến quán. Oanh đi vào trong quán của Long rồi dẫn K’Văn Tuấn vào phòng số 01 (tính từ ngoài vào) để thực hiện hành vi mua bán dâm. Đến khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, khi Oanh và Tuấn đang quan hệ tình dục trong phòng
2 thì bị Đội chống tệ nạn xã hội và mua bán người của Phòng cảnh sát hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận phối hợp với Công an xã Phong Nẫm, TP. Phan Thiết tiến hành kiểm tra và bắt quả tang. Tại thời điểm này, K’ Văn Tuấn chưa trả tiền mua dâm cho Oanh.
Quá trình đều tra xác định được: Vào khoảng tháng 3/2021, Trần Hữu T thuê một phòng trọ tại khu phố 1, phường Phú Tài, TP. Phan Thiết để mở lò đào. Khi khách có nhu cầu mua dâm thì các chủ quán chứa mại dâm trên đường Trường Chinh, TP. Phan Thiết sẽ gọi điện thoại cho Tuấn để chở các gái bán dâm đến bán dâm cho khách theo yêu cầu, mỗi lượt Tuấn thu của gái bán dâm là 25.000 đồng tiền công. Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 05/6/2021, sau khi nhận được điện thoại của Lê Duy L, Tuấn đã chở Trần Nguyễn Hồng Oanh đến quán của Long để bán dâm cho khách. Đến 19 giờ 50 phút cùng ngày, Tuấn quay lại để đón Oanh thì phát hiện Oanh bị lực lượng công an bắt giữ, Tuấn chưa nhận được 25.000 đồng tiền công chở Oanh đến quán của Long để bán dâm.
Quá trình điều tra, Lê Duy L và Trần Hữu T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng thu giữ:
- 01 ruột bao cao su và 01 vỏ bao cao su hiệu VPT đã sử dụng; 01 tuýp gel bôi trơn hiệu KY (thu giữ tại phòng số 01 nơi Oanh và Tuấn đang thực hiện hành vi giao cấu).
- Thu giữ của Trần Nguyễn Hồng Oanh: 16 bao cao su hiệu VPT chưa qua sử dụng.
- Thu giữ của K’ Văn Tuấn: Tiền Việt Nam: 500.000 đồng.
- Thu giữ của Lê Duy L: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imel 1: 354205103209422, số Imel 2: 354205104209421, bên trong có chứa sim số 0933245908.
- Thu giữ của Trần Hữu T: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, màu xanh, có số Imel: 352055/02/052221/3 bên trong có chứa sim số 0792393118.
Xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ của K’ Văn Tuấn, quá trình điều tra xác định: đây là tài sản cá nhân của Tuấn dùng để đi mua dâm, tuy nhiên hành vi nêu trên của Tuấn chỉ vi phạm hành chính nên Cơ quan CSĐT - Công an TP. Phan Thiết đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại số tiền nói trên cho K’ Văn Tuấn.
Đối với các vật chứng của vụ án còn lại gồm: 01 ruột bao cao su và 01 vỏ bao cao su hiệu VPT đã sử dụng; 01 tuýp gel bôi trơn hiệu KY (thu giữ tại phòng nơi Oanh và Tuấn đang quan hệ tình dục); 16 bao cao su hiệu VPT chưa qua sử dụng (thu giữ của Trần Nguyễn Hồng Oanh); 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, bên trong có chứa sim số 0933245908 (thu giữ của Lê Duy L); 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu xanh bên trong có chứa sim số 0792393118
3 (thu giữ của Trần Hữu T), Viện KSND TP. Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự TP. Phan Thiết bảo quản chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 161/CT/VKS ngày 06/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Lê Duy L về tội “Chứa mại dâm”, theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Hữu T về tội “Môi giới mại dâm”, theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử bị cáo Long 12 – 18 tháng tù; khoản 1 Điều 328; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử bị cáo Tuấn 12 – 18 tháng tù;
-Ý kiến của các bị cáo: các bị cáo xin HĐXX xem xét xử mức án nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về căn cứ xác định hành vi: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo được nêu trong cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết là đúng thực tế. Nhận thấy lời khai của các bị cáo là phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định:
Đây là vụ án “Chứa mại dâm” và “Môi giới mại dâm” do Lê Duy L và Trần Hữu T thực hiện.
Vào khoảng 19 giờ 35 phút ngày 05/6/2021, Lê Duy L đã có hành vi sử dụng quán cà phê trên đường Trường Chinh (thuộc thôn Xuân Tài, xã Phong Nẫm, TP. Phan Thiết) do mình làm chủ để chứa một cặp mua bán dâm là Trần Nguyễn Hồng Oanh và K’ Văn Tuấn để thu lợi bất chính. Khi Oanh và Tuấn đang quan hệ tình dục thì bị bắt quả tang.
Trần Hữu T đã có hành vi là người trung gian dẫn dắt gái mại dâm Trần Nguyễn Hồng Oanh đến quán cà phê do Long làm chủ để bán dâm cho K’ Văn Tuấn. Tuấn biết rõ việc dẫn Oanh đến quán của Long là để Oanh thực hiện việc bán dâm.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Lê Duy L về tội “Chứa mại dâm”, theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Hữu T về tội “Môi giới mại dâm”, theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự. HĐXX xét thấy truy tố của VKS đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi nêu trên của Lê Duy L và Trần Hữu T xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa và trật tự trị an tại địa
4 phương. Do đó cần thiết phải xử lý bằng biện pháp hình sự để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Hữu T đã bị kết án về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy” (theo Bản án số 63/2015/HSST ngày 09/7/2021), chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 53 BLHS, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, Lê Duy L và Trần Hữu T đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: các bao su, gel bôi trơn cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, bên trong có chứa sim số 0933245908 (thu giữ của Lê Duy L); 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu xanh bên trong có chứa sim số 0792393118 (thu giữ của Trần Hữu T) là vật các bị cáo dùng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào: khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
* Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy L phạm tội “Chứa mại dâm”.
* Xử phạt: Bị cáo Lê Duy L 15 (mười lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được khấu trừ thời gain tạm giữ từ ngày 06/6/2021 đến ngày 15/6/2021.
* Căn cứ vào: khoản 1 Điều 328; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
* Tuyên bố: Bị cáo Trần Hữu T phạm tội “Môi giới mại dâm”.
* Xử phạt: Bị cáo Trần Hữu T 12 (mười hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
* Áp dụng: Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, bên trong có chứa sim số 0933245908 (thu giữ của Lê Duy L); 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu xanh bên trong có chứa sim số 0792393118 (thu giữ của Trần Hữu T).
5
- Tịch thu tiêu hủy: 01 ruột bao cao su và 01 vỏ bao cao su hiệu VPT đã sử dụng; 01 tuýp gel bôi trơn hiệu KY, 16 bao cao su hiệu VPT chưa qua sử dụng.
Các vật chứng trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 07 ngày 13/10/2021
* Áp dụng: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Lê Duy L, Trần Hữu T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự phải tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Theo Điều 262 BLTTHS - Lưu hồ sơ vụ án - Lưu Tòa án | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ph¹m th¸I b×nh 6 |