- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Đức C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Đức C, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 154/2021/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Bình Dương;
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 161/2021/HS-PT Ngày 09-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức
Các Thẩm phán: Ông Lê Quân Vương
Ông Bùi Ngọc Thạch
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2021 tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 196/2021/TLPT-HS ngày 08 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo Cao Đức C. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 154/2021/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
Cao Đức C, sinh ngày 25/02/1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: số 15/22/22/15 đường HT39, tổ 41A, khu phố 4, phường H, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: thợ sơn nước; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn Đ và bà Nguyễn Thị Thu H; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 21/9/2006, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án hình sự phúc thẩm số 499/2006/HSPT. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 21/3/2021 và tạm giam cho đến nay. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 21/3/2021, Công an phường P, thành phố M, tỉnh Bình Dương nhận được tố giác của ông Trương Văn H về việc phát hiện có đối tượng có hành vi lén lút ở khu vực hàng rào trước cổng nhà ông H, có dấu hiệu trộm cắp tài sản nên lực lượng tuần tra của phường P đến hiện trường để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện nam thanh niên tên là Cao Đức C đang cất giữ trong mũ bảo hiểm màu xanh 01 (một) túi nylon màu trắng, miệng kéo dính, chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) đoạn ống hút nhựa một đầu hàn kín và một đầu hở, chứa tinh thể màu trắng và 02 (hai) đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa tinh thể màu trắng. Qua làm việc Cao Đức C khai nhận những chất tinh thể màu trắng là ma túy đá (Methamphetamine) do Cao Đức C mua để sử dụng nên lực lượng Công an đã đưa Cao Đức C về trụ sở Công an phường P và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Thu giữ: 01 (một) túi nylon màu trắng, miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) đoạn ống hút nhựa một đầu hàn kín và một đầu hở, chứa tinh thể màu trắng và 02 (hai) đoạn ống hút nhựa hàn kín, chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu lần lượt là M1, M2, M3 và đều đã được niêm phong); 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh nhãn hiệu Grap và 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Honda Airblade, màu trắng mang biển số 54V5 – 8103. Cùng ngày, Công an phường P chuyển toàn bộ hồ sơ cùng tang vật, đối tượng đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M xử lý theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra xác định: Cao Đức C là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 21/3/2021, Cao Đức C điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 54V5 – 8103 đi từ nhà tại phường H, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đến nhà vợ tại huyện P, tỉnh Bình Dương. Khi đến khu vực cầu R thuộc huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh thì Cao Đức C gặp một người phụ nữ khoảng 45 tuổi đang đứng ở công viên gần đó (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) và hỏi mua 900.000 đồng ma túy đá. Sau khi giao dịch xong, Cao Đức C cất giấu số ma túy mua được vào bên trong mũ bảo hiểm màu xanh và tiếp tục điều khiển xe về nhà vợ. Khoảng 14 giờ ngày 21/3/2021, khi Cao Đức C đi đến khu vực nhà số 28, đường 5B, khu phố 3, phường P, thành phố M, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng tuần tra kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ Kết luận giám định số 135/MT-PC09 ngày 26/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Dương kết luận: tinh thể màu trắng trong 01 (một) túi nylon, miệng kéo dính (ký hiệu M1); 01 (một) đoạn ống hút nhựa, 01 đầu hàn kín và 01 đầu hở (ký hiệu M2); 02 (hai) đoạn ống hút nhựa hàn kín (ký hiệu M3) kéo dính chứa đựng trong một bì thư được niêm phong có chữ ký người bị bắt Cao Đức C, người chứng kiến Trương Văn H, cán bộ niêm phong Văn Hải Đ và hình dấu đỏ công an phường P, thành phố M, tỉnh Bình Dương là ma túy, có khối lượng/trọng lượng lần lượt là: 1,1283 gam (M1), 0,3586 gam (M2), 0,4632 gam (M3), loại Methamphetamine.
Đối với người đàn bà đã bán ma túy cho Cao Đức C, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 154/2021/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Về trách nhiệm hình sự: tuyên bố bị cáo Cao Đức C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Cao Đức C 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2021.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/10/2021, bị cáo Cao Đức C có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản án sơ thẩm đã nhận định. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng phạm tội và bị kết án. Xét thấy, mức hình phạt 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo với là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, kháng cáo của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội trở về chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo, các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án, thể hiện: khoảng 13 giờ 50 phút ngày 21/3/2021, lực lượng tuần tra của Công an phường P, thành phố M, tỉnh Bình Dương kiểm tra phát hiện Cao Đức C đang cất giữ trong mũ bảo hiểm màu xanh 01 (một) túi nylon màu trắng, miệng kéo dính, chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) đoạn ống hút nhựa một đầu hàn kín và một đầu hở, chứa tinh thể màu trắng và 02 (hai) đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa tinh thể màu trắng, căn cứ Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Dương kết luận là ma túy, có khối lượng/trọng lượng lần lượt là: 1,1283 gam (M1), 0,3586 gam (M2), 0,4632 gam (M3), loại Methamphetamine có tổng khối lượng là 1,9501 gam. Qua điều tra, Cao Đức C khai nhận những chất tinh thể màu trắng là ma túy đá (Methamphetamine) do Cao Đức C mua để sử dụng. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 21/9/2006, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là không nặng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy, không có cơ sở giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Cao Đức C.
Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm là phù hợp.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Đức C, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 154/2021/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Bình Dương;
Tuyên bố bị cáo Cao Đức C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Cao Đức C 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2021.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Cao Đức C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (Vụ GĐKT 1); - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; - Phòng Hồ sơ – Công an tỉnh Bình Dương; - Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Bình Dương (2); - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Bình Dương; - Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện thành phố M, tỉnh Bình Dương; - Bị cáo (1), - Người tham gia tố tụng; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Lưu VP (3), hồ sơ vụ án, NMT, 14. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huỳnh Đức |