- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Đình Việt - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Đình V phạm tội „Tàng trữ trái phép chất ma túy‟.
- Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 161/2020/HSST Ngày: 14/5/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hiền
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Như Hoa – Giáo viên nghỉ hưu
Ông Bùi Anh Phong – Giáo viên nghỉ hưu
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Nữ Hạnh Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 14/5/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Vinh, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa công khai để xét xử hình sự sơ thẩm thụ lý số 94/2020/TLST - HS ngày 13/3/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/ 2020/ QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Phan Đình V; sinh ngày 13/7/2002 ; nơi ĐKHKTT: Xóm 11, xã V1, huyện L, Nghệ An; chỗ ở: Xóm 12, xã K, thành phố Vinh, Nghệ An; nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Phan Đình Hà và bà: Hồ Thị H; tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2020 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo V: Bà Hồ Thị H (mẹ đẻ).
Địa chỉ : Xóm 11, xã V1, huyện L, Nghệ An. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo V : Luật sư Lê Đăng Tế -
cộng tác viên trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Nghệ An. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 09/01/2020 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Phan Đình V gọi điện thoại cho một người đàn ông tên Vương hỏi mua 300.000 đồng ma túy để sử dụng. Vương đồng ý và hẹn V đến cổng chào xóm 8, xã K, thành phố Vinh để giao dịch. Tại đây, V đưa cho Vương 300.000 đồng, Vương cầm tiền và đưa cho V một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu thăng long, bên trong có một gói ni lông màu trắng chứa ma túy đá. V bỏ vỏ bao thuốc lá có chứa gói ma túy vào túi quần bên trái rồi điều khiển xe máy đến ngõ 86 đường Lý Thường Kiệt, khối 3, phường Lê Lợi, thành phố Vinh thì bị đội Cảnh sát giao thông, trật tự công an thành phố Vinh kiểm tra phát hiện và bắt giữ.
Tại kết luận giám định số 160/KL– PC09 ngày 14/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất cục bột màu trắng thu giữ của Phan Đình V là ma túy tổng hợp Methamphetamine có khối lượng 0,16 gam.
Cáo trạng số 124/CT-VKS ngày 10/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố Phan Đình V về tội „Tàng trữ trái phép chất ma túy‟ theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng :
Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101 BLHS xử phạt Phan Đình V từ 07 tháng đến 09 tháng tù.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư có chứa ma túy tổng hợp Methamphetamine thu giữ của bị cáo hiện có tại chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh.
Tịch thu hóa giá sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu giữ của bị cáo.
Bị cáo không phải chịu hình phạt bổ sung.
Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo không có tranh luận gì về tội danh mà Viện kiểm sát áp dụng. Tuy nhiên luật sự Tế đưa ra các tình tiết giảm nhẹ đề Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất mà Viện kiểm sát đã đề nghị.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo không có tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra – công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo Phan Đình V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 13 giờ ngày 09/01/2020 tại khu vực nhà số 07, ngõ 86 đường Lý Thường Kiệt, khối 13, phường Lê Lợi, thành phố Vinh; Phan Đình V đã có hành vi cất dấu 01 gói ma túy tổng hợp Methamphetamine có khối lượng 0,16 gam để sử dụng. Xét về nhân thân và khối lượng gói ma túy bị cáo cất dấu nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là liều lĩnh và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước; Gây mất trật tự trị an xã hội và còn là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Mặt khác, khi phạm tội, bị cáo hơn 17 tuổi nhận thức còn hạn chế nên cần áp dụng điều 91, điều 101 để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Với những phân tích như trên nghĩ cần xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là đủ nghiêm là đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 6 Điều 91 BLHS thì không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo dưới 18 tuổi. Vì vậy, bị cáo không phải chịu hình phạt bổ sung.
Đối với người đàn ông tên Vương đã bán ma túy cho V do V không biết lai lịch địa chỉ của người này nên cơ quan điều tra công an Thành phố Vinh tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Về vật chứng: 01 gói ma túy tổng hợp Methamphetamine thu giữ của bị cáo là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xám trắng thu giữ của bị cáo được xác định là công cụ phạm tội cần tịch thu hóa giá sung vào Ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu JC43 Wave màu đỏ đen bạc biển kiểm soát 37P8-7031 bị cáo sử dụng để đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác định được đó là tài sản hợp pháp của bà Hồ Thị H, bà H không biết được bị cáo sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nên cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Vinh đã trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định.
Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Phan Đình V phạm tội „Tàng trữ trái phép chất ma túy‟.
Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101 BLHS xử phạt:
Bị cáo Phan Đình V 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/01/2020.
Về tang vật: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy một phong bì thư niêm phong dán kín ghi vật chứng thu giữ của Phan Đình V hiện có tại kho chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, Nghệ An theo phiếu nhập kho vật chứng số NK0241 ngày 30/3/2020.
Tịch thu hóa giá sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xám trắng hồng hiện có tại kho chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, Nghệ An theo phiếu nhập kho vật chứng số NK0241 ngày 30/3/2020.
Án phí: Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí: Buộc bị cáo Phan Đình V phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
| N¬i nhËn - TAND tỉnh Nghệ An - VKSND tỉnh Nghệ An - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An - VKSND TP Vinh - Chi cục THA DS TP Vinh - Công an TP Vinh - Bị cáo - Người đại diện, người bảo vệ quyền lợi cho bị cáo - Lưu hồ sơ | T/M Héi §ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n- Chñ to¹ phiªn toµ Phạm Thị Minh Hiền |